THÁNH CA VỀ CHÚNG TÔI

11.30.2019

Thiết lập mối quan hệ thích đáng với Đức Chúa Trời là điều tối quan trọng

Để tin Đức Chúa Trời, mến Đức Chúa Trời và làm đẹp lòng Đức Chúa Trời, người ta phải tiếp xúc với Thần của Đức Chúa Trời bằng cả tấm lòng, như thế là làm đẹp lòng Ngài; khi ghi khắc lời Đức Chúa Trời vào lòng mình thì phải để lòng mình được Thần của Đức Chúa Trời lay động. Nếu muốn có được đời sống tâm linh thích đáng và thiết lập mối liên hệ thích đáng với Đức Chúa Trời, trước hết ngươi phải trao trái tim mình cho Ngài, và làm bình lặng lòng mình trước nhan Ngài. Chỉ sau khi dốc trọn lòng mình vào trong Đức Chúa Trời, ngươi mới dần tăng tiến một đời sống tâm linh thích đáng. Nếu người ta không tin tưởng trao tâm hồn mình cho Đức Chúa Trời, nếu tâm hồn họ chưa ở trong Ngài và họ không xem tâm tư của Ngài là của chính mình, thì mọi việc họ làm đều là lừa dối Đức Chúa Trời, và đấy chính là mọi hành vi của những người tu hành, Đức Chúa Trời không khen gì kiểu đó. Đức Chúa Trời chẳng được ích lợi gì từ loại người này, họ chỉ có thể là thứ cản trở công trình của Đức Chúa Trời, như một thứ trang trí trong nhà Đức Chúa Trời, chiếm chỗ mà chẳng được việc gì, Đức Chúa Trời không dùng loại người này. Trong người như thế, không chỉ chẳng có chỗ cho Đức Thánh Linh hoạt động, mà hơn nữa, còn chẳng có bất kỳ giá trị nào của sự hoàn hảo. Dạng người này đúng là “xác sống” thật. Đức Thánh Linh chẳng dùng được gì nơi họ, họ đều bị Sa-tan chiếm hữu, làm cho bại hoại đến cực độ, và họ chính là những kẻ bị Đức Chúa Trời khai trừ. Hiện thời, Đức Thánh Linh không chỉ dùng người ta bằng cách vận dụng những nhân đức của họ, mà còn bằng cách hoàn thiện họ và thay đổi những thiếu sót của họ. Nếu có thể dốc lòng mình vào Đức Chúa Trời và bình lặng trước Ngài, thì ngươi sẽ có cơ hội và đủ tư cách được Đức Thánh Linh dùng đến, được Đức Thánh Linh khai sáng và soi sáng, và hơn nữa, ngươi còn có thể được Đức Thánh Linh điều chỉnh những thiếu sót nơi mình. Khi trao trái tim cho Đức Chúa Trời, ngươi có thể tiến thêm trong những chuyện tích cực và thấu suốt hơn, còn về những chuyện tiêu cực, ngươi sẽ hiểu rõ hơn những lỗi phạm và thiếu sót của mình, sẽ hăng hái tìm cách làm đẹp ý Đức Chúa Trời hơn, và sẽ không thụ động, sẽ tích cực dấn thân. Thế nghĩa là ngươi là một người đúng đắn. Với việc tâm hồn ngươi thanh thản trước Đức Chúa Trời, thì điểm mấu chốt để ngươi được Đức Thánh Linh khen ngợi và làm đẹp lòng Chúa là việc ngươi có tích cực dấn thân hay không. Khi Đức Thánh Linh soi sáng và dùng đến một người, thì không bao giờ khiến người đó trở nên tiêu cực, nhưng luôn cho người đó ngày càng tích cực. Dù cho có nhược điểm, người đó vẫn có thể không sống theo nhược điểm của mình, có thể tránh chuyện trì hoãn tăng tiến trong đời, và có thể tiếp tục tìm cách làm đẹp ý Đức Chúa Trời. Đây là tiêu chuẩn chứng minh thích đáng rằng ngươi đã có được sự hiện diện của Đức Thánh Linh. Nếu một người lúc nào cũng tiêu cực, thậm chí cả sau khi được soi sáng để nhận thức bản thân mà vẫn cứ tiêu cực và thụ động, không thể vươn lên và hành động tương hợp với Đức Chúa Trời, thì kiểu người này chỉ nhận được ơn Đức Chúa Trời nhưng chưa có Đức Thánh Linh nơi mình. Khi người ta tiêu cực, nghĩa là trái tim người đó chưa hướng về Đức Chúa Trời và tinh thần người đó chưa được Thần của Đức Chúa Trời lay động. Tất cả mọi người phải nhận thấy được điều này.

11.29.2019

Phi-e-rơ biết Jêsus bằng cách nào

Trong thời gian Phi-e-rơ ở cùng với Jêsus, ông đã thấy nhiều đặc tính đáng mến của Jêsus, nhiều khía cạnh đáng để noi theo và nhiều khía cạnh bổ sung cho ông. Dù cho Phi-e-rơ thấy hữu thể của Đức Chúa Trời trong Jêsus theo nhiều cách, và thấy nhiều phẩm chất đáng mến, nhưng lúc đầu ông đã không biết Jêsus. Phi-e-rơ bắt đầu theo Jêsus từ năm 20 tuổi, và tiếp tục theo Ngài trong sáu năm. Trong thời gian đó, ông chưa hề biết Jêsus, Phi-e-rơ sẵn sàng theo Jêsus chỉ vì lòng mến mộ mà thôi. Khi Jêsus lần đầu gọi ông trên bờ Biển Ga-li-lê, Ngài đã hỏi: “Si-môn, con Giô-na, ngươi có theo Ta không?” Phi-e-rơ thưa: “Tôi phải theo đấng được Cha trên trời sai đến. Tôi phải công nhận đấng được Đức Thánh Linh chọn. Tôi sẽ theo Ngài”. Lúc đó, Phi-e-rơ đã nghe về một người tên là Jêsus - tiên tri vĩ đại nhất và là Con yêu dấu của Đức Chúa Trời - và Phi-e-rơ đã không ngừng hy vọng tìm được Ngài và hy vọng có cơ hội gặp Ngài (bởi Đức Thánh Linh đã dẫn dắt ông như thế). Dù cho Phi-e-rơ chưa hề gặp Ngài và chỉ mới nghe đồn về Ngài, nhưng sự mong mỏi và kính mến dành cho Jêsus lớn dần trong lòng ông, và ông thường mong mỏi đến một ngày được thấy Jêsus. Và Jêsus đã kêu gọi Phi-e-rơ như thế nào? Ngài cũng đã nghe về một người tên là Phi-e-rơ, nhưng không phải Đức Thánh Linh đã chỉ dẫn Ngài rằng: “Hãy đến Biển Ga-li-lê, nơi có một người tên là Si-môn, con Giô-na”. Jêsus đã nghe có người nói rằng có một người tên là Si-môn, con Giô-na, rằng mọi người đã nghe ông giảng, rằng ông cũng giảng phúc âm nước thiên đàng và những người nghe ông đều xúc động đến rơi lệ. Sau khi nghe chuyện đó, Jêsus theo người đó đến Biển Ga-li-lê, khi Phi-e-rơ chấp nhận lời kêu gọi của Jêsus, ông đã theo Ngài.

11.28.2019

Con người bại hoại không thể đại diện cho Đức Chúa Trời

Con người đã và đang sống dưới sự bao phủ của uy quyền của sự tối tăm, bị giam cầm bởi thế lực của Sa-tan mà không tìm ra lối thoát. Đã vậy, sau khi bị Sa-tan thao túng, tâm tính của con người ngày càng trở nên bại hoại hơn. Có thể nói, con người luôn sống với tâm tính tha hoá của Sa-tan, không thể thực sự yêu kính Đức Chúa Trời. Vậy thì, nếu một người muốn yêu Đức Chúa Trời, anh ta phải từ bỏ tính tự cho mình là công chính, tự cao, kiêu căng, tự phụ và những tính tương tự, tất cả những tính đó đều thuộc tính khí của Sa-tan. Nếu không, tình yêu của con người là một tình yêu không thuần khiết, là tình yêu của Sa-tan, một tình yêu mà chắc chắn sẽ không được Đức Chúa Trời chấp nhận. Nếu chưa được Đức Thánh Linh trực tiếp hoàn thiện, xử lý, làm tan vỡ, tỉa sửa, kỷ luật, sửa phạt hoặc tinh lọc thì không một ai có thể thực sự yêu Đức Chúa Trời cả. Nếu ngươi nói rằng một phần tâm tính của ngươi đại diện cho Đức Chúa Trời, và vì thế ngươi có thể thực sự yêu Đức Chúa Trời thì ngươi đang nói những lời ngạo mạn và là một người ngớ ngẩn. Những người như thế là thiên sứ trưởng rồi! Bản chất bẩm sinh của con người không thể trực tiếp đại diện cho Đức Chúa Trời. Con người phải từ bỏ bản chất bẩm sinh của mình qua sự toàn vẹn của Đức Chúa Trời, và sau đó, chỉ bằng cách quan tâm đến ý chỉ của Đức Chúa Trời, làm ứng nghiệm ý muốn của Ngài và hơn thế nữa là kinh nghiệm các công việc của Đức Thánh Linh thì cách sống của họ mới được Đức Chúa Trời chấp nhận. Không ai sống trong xác thịt có thể trực tiếp đại diện cho Đức Chúa Trời trừ khi người đó được Đức Thánh Linh sử dụng. Thế nhưng, một người như vậy cũng không thể nói rằng tâm tính mình và những gì anh ta thể hiện qua đời sống mình hoàn toàn đại diện cho Đức Chúa Trời; Con người chỉ có thể nói rằng những gì anh ta thể hiện qua đời sống mình được chỉ dẫn bởi Đức Thánh Linh, và tâm tính của người như thế cũng không thể đại diện cho Đức Chúa Trời được.

11.27.2019

Chương 63

Hãy hiểu về điều kiện của chính mình, và hơn thế, hãy rõ ràng về con đường mà các ngươi cần phải đi; đừng chờ đợi Ta phải véo tai ngươi lên và chỉ ra mọi thứ cho ngươi nữa. Ta là Đức Chúa Trời quan sát tận đáy lòng của con người và Ta biết từng suy nghĩ và ý tưởng của ngươi, hơn thế Ta còn hiểu mọi hành động và hành vi của ngươi. Nhưng những hành động và hành vi của ngươi có chứa đựng lời hứa của Ta? Chúng có chứa đựng ý chỉ của Ta? Ngươi đã thực sự tìm kiếm điều này chưa? Ngươi đã thực sự dành thời gian cho khía cạnh này chưa? Ngươi đã thực sự cố gắng chút nào chưa? Ta không chỉ trích ngươi. Đơn giản là các ngươi đã bỏ qua khía cạnh này! Các ngươi luôn luôn lẫn lộn mọi thứ và không nhìn rõ được điều gì cả. Ngươi có biết đâu là nguyên nhân của việc này hay không? Đó là bởi vì suy nghĩ của các ngươi không rõ ràng và các khái niệm của các ngươi quá bảo thủ, và thêm vào đó là thực tế rằng ngươi không hề cân nhắc đến ý chỉ của Ta. Một số người sẽ nói rằng: “Sao Ngài có thể phánrằng chúng con không cân nhắc đến ý chỉ của Ngài? Chúng con luôn cố gắng nắm bắt ý chỉ của Ngài, nhưng chúng con không bao giờ có thể nắm bắt được, vậy chúng con có thể làm được gì? Ngài thật sự có thể phán rằng chúng con không hề cố gắng ư?” Để Ta hỏi ngươi: Ngươi có dám nói rằng ngươi hoàn toàn trung thành với Ta? Và ai dám nói rằng họ dâng mình cho Ta với tấm lòng trung thành trọn vẹn? Ta sợ là không có ai trong số các ngươi có thể nói điều này. Bởi vì, không cần Ta phải phán ra, mỗi một người trong các ngươi có sự lựa chọn riêng và sở thích riêng, và hơn thế là ý định của riêng mình. Đừng lừa dối nữa! Từ lâu Ta đã hoàn toàn hiểu tất cả những gì các ngươi nghĩ trong lòng; Ta có cần phải làm rõ điều này nữa không? Ngươi phải xem xét kỹ hơn từ mọi khía cạnh (các suy nghĩ và ý tưởng của ngươi, mọi điều ngươi nói, từng lời, từng ý định và động cơ trong mỗi hành động ngươi làm); bằng cách này ngươi sẽ hiểu được mọi khía cạnh, và hơn thế nữa ngươi sẽ có thể trang bị trọn vẹn lẽ thật cho bản thân mình.

11.26.2019

Chương 20

Những của cải của nhà Ta là vô số và không kể xiết, nhưng con người chưa bao giờ tìm đến Ta để hưởng thụ chúng. Con người không thể tự mình hưởng thụ chúng, và cũng không thể tự nỗ lực bảo vệ chính mình; thay vào đó, con người luôn đặt niềm tin vào những người khác. Trong tất cả những người mà Ta để ý, không ai từng trực tiếp và chủ tâm tìm kiếm Ta. Tất cả họ đến trước Ta do sự thúc giục từ những người khác, họ làm theo số đông và không sẵn sàng trả giá hoặc dành thời gian để làm phong phú thêm đời sống của mình. Do đó, đối với loài người, không ai từng sống trong thực tế, và tất cả mọi người đều sống cuộc sống không có ý nghĩa. Do những cách thức và phong tục lâu đời của con người, thân thể của mọi người đầy mùi đất phàm tục. Vì vậy, con người đã trở nên chai sạn, vô cảm trước sự hoang tàn của trần gian, và thay vào đó con người bận rộn với việc tận hưởng bản thân trên thế gian lạnh lẽo này. Cuộc sống của con người không có chút ấm áp nào, và không có bất kỳ dấu vết nào của nhân loại hay ánh sáng - nhưng con người chưa bao giờ quen với điều đó, sống một cuộc đời vô giá trị luôn hối hả mà không đạt được bất cứ điều gì. Trong chớp mắt, ngày chết đến gần, và con người ra đi trong cay đắng. Trên thế gian này, con người chưa bao giờ hoàn thành bất cứ điều gì, hoặc đạt được bất cứ điều gì - con người chỉ vội vàng đến và vội vã rời đi. Trong mắt Ta, không có người nào đã từng mang đi được bất cứ điều gì, hoặc lấy đi được bất cứ điều gì, và vì vậy con người cho rằng thế gian không công bằng. Tuy nhiên, không ai sẵn sàng ra đi nhanh chóng. Họ chỉ chờ đợi ngày lời hứa của Ta từ trời đột nhiên đến giữa con người, cho phép họ trong lúc lầm đường lạc lối một lần nữa nhìn thấy con đường đến sự sống vĩnh cửu. Do đó, con người luôn để ý tới mọi hành động và việc làm của Ta để xem liệu Ta có thực sự giữ lời hứa với họ không. Khi con người rơi vào tình trạng đau khổ hay đau đớn tột cùng, hoặc bị những sự thử thách bủa vây và gần như gục ngã, con người nguyền rủa ngày sinh của mình để sớm thoát khỏi mọi khổ đau và đến một nơi lý tưởng khác. Nhưng khi những thử thách đã qua, con người lại tràn ngập niềm vui. Con người ăn mừng ngày mình sinh ra trên đời và cầu xin Ta ban phước lành cho ngày sinh của họ; lúc này, con người không còn nhắc đến những lời nguyền rủa trước đây, vô cùng lo sợ cái chết sẽ đến với mình. Khi tay Ta nâng đỡ thế gian, con người nhảy múa trong niềm vui sướng, họ không còn buồn phiền nữa, và tất cả họ đều dựa vào Ta. Khi Ta dùng tay che mặt lại, và nhấn con người xuống lòng đất, họ lập tức cảm thấy khó thở và gần như không thể sống sót. Tất cả họ đều than khóc với Ta, sợ hãi rằng Ta sẽ huỷ diệt họ, vì tất cả đều ao ước chứng kiến ngày vinh quang của Ta. Con người lấy ngày vinh quang của Ta làm nguyên tắc cho sự tồn tại của mình, và chỉ vì mong đợi ngày vinh quang của Ta đến mà nhân loại tồn tại cho đến hôm nay. Phước lành mà miệng Ta ban chính là những người được sinh ra trong những ngày sau rốt sẽ đủ may mắn được chứng kiến tất cả sự vinh hiển của Ta.

11.25.2019

Chương 17

Giọng nói của Ta như tiếng sấm, chiếu sáng bốn phương, chiếu sáng cả trần gian, con người bị gục ngã trong sấm sét. Không có ai đứng vững trong sấm sét, đa phần đều khiếp sợ bởi sự hiện diện của ánh sáng của Ta, và không biết phải làm gì. Khi một tia ánh sáng yếu ớt dần xuất hiện ở phía Đông, rất nhiều người đã bị “cảm động” bởi thứ ánh sáng mong manh này,ngay lập tức bị đánh thức khỏi ảo ảnh. Nhưng không ai nhận ra rằng ngàyánh sáng củaTa giáng trần đã đến. Đa số con người đều chết lặng vì sự xuất hiện đột ngột của ánh sáng, hoặc quan sát động thái của ánh sáng, quan sát hướng đến của ánh sáng bằng đôi mắt hiếu kỳ, hoặc có người sẵn sàng đứng đối diện với ánh sáng, để biết rõ hơn về cội nguồn của ánh sáng. Nhưng cho dù như vậy, có ai đã từng nhận thấy ánh sáng của ngày hôm nay quý giá như thế nào không? Có ai đã từng đánh thức điều kỳ diệu của ánh sáng ngày hôm nay chưa? Phần đông con người không hiểu, bị ánh sáng làm tổn thương đôi mắt, bị ánh sáng đẩy ngã xuống bùn lầy. Có thể nói, trần gian chính là một mớ hỗn độn trong tia sáng mong manh này, tạo nên cảnh tượng bi thảm khó có thể chấp nhận được, nhìn kỹ càng thấy xót xa. Có thể thấy khi ánh sáng đang mạnh, trạng thái của trần gian sẽ không cho phép con người đứng trước mặt Ta. Con người ở dưới sự chiếu rọi của ánh sáng, con người đều đượcsự cứu rỗi của ánh sáng nhưng đồng thời đều chịu những vết thương do ánh sáng gây ra. Có ai không nằm dưới sự giết chóc của ánh sáng? Có ai có thể thoát khỏi sự thiêu đốt của ánh sáng? Ta đã đi khắp vũ trụ, bàn tay Ta gieo hạt giống linh hồn của Ta, để con người trên khắp vũ trụ sẽ “cảm động” vì Ta. Ta ngắm nhìn khắp trần gian từ nơi cao nhất của thiên đàng, quan sát những “hiện tượng kỳ lạ” của các sinh vật trên trần gian: Dường như mặt biển đang phải hứng chịu trận động đất, chim biển bay qua bay lại, tìm cá để ăn. Dưới đáy biển thì hoàn toàn không hề hay biết, trạng thái của mặt biển hoàn toàn không thể đánh thức được sự tỉnh ngộ, vì đáy biển yên tĩnh như trên tầng trời thứ ba, các loài động vật lớn nhỏ chung sống hòa bình, chưa từng xảy ra “khẩu chiến”. Trong số những hiện tượng kỳ lạ, con người khiến Ta khó hài lòng nhất, bởi vì địa vị mà Ta cho con người quá cao, do vậy, tham vọng của con người quá lớn, và trong mắt của con người luôn có một phần “chống đối”. Trong sự sửa dạy của Ta đối với con người, trong sự phán xét của Ta với con người, từngcó nhiều nỗi khổ tâm của Ta dành con con người, nhưng con người không hề mảy may biết được. Ta chưa từng đối xử khắc nghiệt với bất kỳ ai, chỉ trừng phạt thích đáng khi con người nổi loạn, ban cho “sự giúp đỡ” phù hợp khi con người yếu đuối. Nhưng khi con người xa cách Ta và dùngquỷ kế của Sa-tan để phản bội Ta, Ta sẽ hủy diệt loài người ngay lập tức, khiến cho con người không còn có cơ hội “thể hiện khả năng” trước mặt Ta, không thể nghênh ngang vênh váo, cậy thế ức hiếp người khác trên trần gian nữa.

11.24.2019

Chương 23

Khi giọng nói của Ta vang lên, khi mắt Ta tóe ra tia lửa, Ta đang quan sát toàn bộ trần gian, Ta đang quan sát toàn bộ vũ trụ. Cả nhân loại đang cầu nguyện Ta, hướng về phía Ta, cầu xin Ta không nổi giận nữa, thề sẽ không chống đối lại Ta nữa. Nhưng đã không còn là quá khứ, mà là hiện tại. Ai có thể thay đổi ý chí của Ta? Lẽ nào là lời cầu khẩn trong trái tim con người? Là lời nói trong miệng con người? Ai có thể sống tới bây giờ nếu không có Ta? Ai không sống nhờ lời nói phát ra từ miệng của Ta? Ai không nằm dưới ánh mắt cảnh giác của Ta? Khi Ta triển khai công việc mới của Ta trên khắp trần gian, có ai đã từng chạy trốn? Lẽ nào núi có thể ỷ mình cao lớn mà trốn tránh? Lẽ nào nước có thể ỷ mình mênh mông mà ngăn trở? Ta chưa từng dễ dàng bỏ qua bất cứ thứ gì trong kế hoạch của Ta, bởi vì, chưa từng có người nào hay thứ gì thoát khỏi sự sắp đặt của bàn tay Ta. Hôm nay, tên thánh của Ta được ca ngợi giữa toàn nhân loại, những lời chống lại Ta lại được đưa ra giữa toàn nhân loại, và những huyền thoại về Taở trần gian lại được lan truyền giữa toàn nhân loại. Ta không cho phép con người phán xét Ta, không cho phép con người chia cắt cơ thể của Ta, càng không cho phép con người nguyền rủa Ta. Bởi vì con người chưa từng thực sự biết đến Ta, vì vậy, con người luôn chống lại Ta, luôn lừa dối Ta, không trân quý linh hồn của Ta, không trân trọng lời nói của Ta. Bởi vì hành động của con người, bởi vì thái độ của con người đối với Ta, Ta sẽ cho con người “thù lao” phù hợp. Vì vậy, con người đều làm việc theo “thù lao”, và không có ai từng làm công việc hy sinh bản thân. Con người không sẵn sàng dâng hiến vô tư, mà thích nhận được “thù lao” không phải trả giá. Mặc dù Phê-rô dâng hiến trước mặt Ta, nhưng không phải vì “thù lao” của ngày mai, mà là vì “nhận thức” của ngày hôm nay. Con người và Ta chưa từng kết giao thực sự với nhau, mà cứ năm lần bảy lượt đối phó với Ta trước mặt Ta, muốn dùng sự “đối phó” của mình để dễ dàng nhận được sự khen ngợi của Ta. Ta đã quan sát tận trong sâu thẳm đáy lòng con người, vì vậy, đã khai quật được rất nhiều “khoáng sản phong phú” nằm sâu trong trái tim con người, thậm chí con người còn chưa biết đến, nhưng Ta đã có những phát hiện mới này. Vì vậy, sau khi nhìn thấy “vật chứng”, con người mới không “ra vẻ khiêm tốn” nữa, mà ngửa tay thừa nhận sự ô uế của mình. Trong con người, có nhiều điều mới mẻ đang chờ Ta “khai thác”, để cho tất cả mọi người đều được tận hưởng. Ta sẽ không chấm dứt công việc của Ta bởi sự “bất lực” của con người, mà luôn chỉnh sửa con người theo kế hoạch ban đầu của Ta. Con người giống như cây ăn quả, nếu không cắt tỉa thì khó mà kết trái, cuối cùng chỉ nhìn thấy cành khô và lá rụng, mà không thấy quả rụngxuống đất.

11.22.2019

Tin Lành Kịch ngắn 2019 - Nhìn xem! Đó là một Pha-ri-si thời hiện đại !

Tin Lành Kịch ngắn 2019 - Nhìn xem! Đó là một Pha-ri-si thời hiện đại !

Hai nghìn năm trước, Đức Chúa Jêsus nhập thể đã xuất hiện và làm việc, rao giảng Phúc Âm của thiên quốc, bày tỏ lẽ thật, và ban cho con người con đường ăn năn. Qua những điều này, nhiều người đã nghe được tiếng của Đức Chúa Trời và đi theo Ngài. Những người Pha-ri-si đã ngoan cố giữ ý tưởng của riêng mình, chối bỏ và lên án Đức Chúa Jêsus nhập thể, và thậm chí còn đóng đinh Chúa. Đức Chúa Jêsus đã nói tiên tri rằng Ngài sẽ trở lại trong những ngày sau rốt. Vậy thì, ai đóng vai trò của người Pha-ri-si thời hiện đại? Hãy xem vở kịch ngắn Nhìn xem! Đó là một Pha-ri-si thời hiện đại!

Nếu bạn có bất kỳ khó khăn hay thắc mắc nào trong đức tin, hãy liên lạc với chúng tôi bất kỳ lúc nào: http://bit.ly/2kMVTvI
Facebook Messenger: http://bit.ly/2knEucS

Giới thiệu:
Làm sao mới có thể đạt được đạo sự sống đời đời? Đọc lời của Chúa, nói với bạn đáp án.

11.21.2019

Khi Ngươi Thấy Được Thân Thể Thuộc Linh Của Jêsus Sẽ Là Khi Đức Chúa Trời Đã Làm Mới Lại Trời Đất

Ngươi có ao ước được nhìn thấy Jêsus? Ngươi có ao ước được sống cùng Jêsus? Ngươi có ao ước được nghe những lời Jêsus phán? Nếu vậy, ngươi sẽ chào đón sự trở lại của Jêsus như thế nào? Ngươi có chuẩn bị đầy đủ không? Ngươi sẽ chào đón sự trở lại của Jêsus theo cách thức nào? Ta nghĩ rằng mỗi anh chị em đi theo Jêsus đều muốn chào đón Jêsus thật tốt. Nhưng các ngươi đã cân nhắc điều này chưa: Ngươi sẽ thật sự nhận biết Jêsus khi Ngài quay trở lại chứ? Các ngươi sẽ thật sự hiểu mọi điều mà Ngài phán chứ? Các ngươi sẽ thật sự chấp nhận, một cách vô điều kiện, tất cả công việc mà Ngài làm chứ? Tất cả những ai đã đọc Kinh Thánh đều biết về sự trở lại của Jêsus, và tất cả những ai đã đọc Kinh Thánh đều chăm chú chờ đợi sự đến của Ngài. Tất cả các ngươi đều chăm chú vào giây phút đó, và sự chân thành của các ngươi là đáng khen ngợi, đức tin của các ngươi thật sự đáng ghen tị, nhưng các ngươi có nhận ra rằng các ngươi đã phạm phải một sai lầm nghiêm trọng? Jêsus sẽ trở lại theo cách nào? Các ngươi tin rằng Jêsus sẽ quay trở lại trên một đám mây trắng, nhưng Ta hỏi các ngươi: Đám mây trắng này ám chỉ điều gì? Khi mà rất nhiều người đi theo Jêsus đang chờ đợi sự quay trở lại của Ngài, thì Ngài sẽ giáng thế giữa những người nào? Nếu Jêsus giáng thế ở giữa các ngươi đầu tiên, thì những người khác không phải sẽ cho rằng điều này thật quá bất công sao? Ta biết rằng các ngươi đều rất chân thành và trung kiên với Jêsus, nhưng các ngươi đã bao giờ gặp Jêsus chưa? Các ngươi có biết được tâm tính của Ngài không? Các ngươi đã bao giờ sống với Ngài chưa? Các ngươi thật sự hiểu về Ngài được bao nhiêu? Một số người sẽ nói rằng những lời này đặt họ vào một tình huống khó xử. Họ sẽ nói rằng: “Tôi đã đọc hết Kinh Thánh từ đầu chí cuối rất nhiều lần. Sao tôi lại không hiểu Jêsus được? Đừng bận tâm đến tâm tính của Jêsus – tôi thậm chí còn biết cả màu sắc trang phục mà Ngài thích mặc. Phải chăng Ngài xem thường tôi khi Ngài phán rằng tôi không hiểu gì về Jêsus?” Ta cho rằng ngươi không nên tranh cãi về những vấn đề này; tốt hơn nên bình tâm và thông công về những câu hỏi sau: Trước hết, ngươi có biết thế nào là thực tế, và thế nào là lý thuyết không? Thứ hai, ngươi có biết thế nào là khái niệm, và thế nào là lẽ thật không? Thứ ba, ngươi có biết thế nào là tưởng tượng, và thế nào là hiện thực không?

11.20.2019

Tình yêu của Đức Chúa Trời bao phủ trái tim con

  • 1 Mặt trời công chính mọc lên ở phương Đông. 
  • Chúa ơi! Vinh quang của người đầy ắp đất trời. 
  • Người yêu dấu xinh đẹp của con, tình yêu của Người bao phủ tấm lòng con. 
  • Những người tìm kiếm lẽ thật —họ yêu Chúa, tất cả họ yêu Chúa. 
  • Sáng tinh mơ, con một mình thức giấc, nhưng niềm vui vẫn dạt dào trong tim khi con suy ngẫm về những lời của Chúa. 
  • Những lời dịu dàng của Người tựa tiếng mẹ yêu thương; những lời phán xét của Người nghiêm khắc như lời khiển trách của cha. 
  • Con không yêu ai khác trên thế gian, cả tấm lòng con chỉ dành để yêu Đức Chúa Trời Toàn Năng
  • Ah hey, ah hey, 
  • Ah hey, ah hey, 
  • Con không yêu ai khác trên thế gian, cả tấm lòng con chỉ dành để yêu Đức Chúa Trời Toàn Năng.
  •  
  • 2 Ý nguyện của Chúa đã được tiết lộ— để hoàn thiện những người thực sự yêu mến Ngài. 
  • Những người trong sạch sôi nổi đều dâng những lời tụng ca lên Ngài. 
  • Một điệu nhảy vui tươi đẹp đẽ xiết bao, tung tăng nhảy múa quanh ngai. 
  • Từ bốn phương, chúng ta đến, tề tựu bởi lời hiệu triệu của Chúa. 
  • Những lời sự sống của Ngài ban cho ta, ta được thanh tẩy nhờ sự phán xét của Ngài. 
  • Qua tôi luyện, tình yêu trở nên mạnh mẽ hơn. Ngọt ngào xiết bao khi được tận hưởng tình yêu của Chúa
  • Đức Chúa Trời Toàn Năng thật đáng yêu, con chỉ yêu mình Ngài. 
  • Ah hey, ah hey, 
  • Ah hey, ah hey, 
  • Đức Chúa Trời Toàn Năng thật đáng yêu, con chỉ yêu mình Ngài. 
  • Ah hey, ah. 
  • Uh, uh. 
  • Trích từ "Theo Chiên Con và Hát Những Bài Ca Mới"

    Giới thiệu:
  • Cầu nguyện thế nào để được Chúa nhậm? Đọc lời của Chúa, chỉ cho bạn rõ lối đi.

11.19.2019

Đấng Cứu Thế đã trở lại trên một “đám mây trắng”

Trong nhiều thiên niên kỷ, con người đã mong mỏi có thể được chứng kiến sự hiện đến của Đấng Cứu Thế. Con người đã mong mỏi được trông thấy Jêsus là Đấng Cứu Thế cưỡi trên một đám mây trắng khi đích thân Ngài giáng xuống giữa những người đã mong ngóng và khao khát Ngài hàng nghìn năm qua. Con người cũng đã mong mỏi Đấng Cứu Thế trở lại và được đoàn tụ với họ; nghĩa là, mong mỏi Jêsus là Đấng Cứu Thế, Đấng đã bị tách rời khỏi con người trong hàng nghìn năm, trở lại, và một lần nữa thực hiện công tác cứu chuộc mà Ngài đã làm giữa dân Do Thái, thương xót và yêu thương con người, tha thứ những tội lỗi của con người và mang lấy tội lỗi của con người, thậm chí mang lấy mọi tội trọng của con người và giải thoát con người khỏi tội lỗi. Điều mà con người mong mỏi là Jêsus Đấng Cứu Thế sẽ giống như trước kia - một Đấng Cứu Thế đáng yêu mến, nhân từ và đáng kính, Đấng không bao giờ thịnh nộ với con người, và Đấng không bao giờ quở trách con người, nhưng là Đấng tha thứ và gánh lấy mọi tội lỗi của con người, và là Đấng sẽ thậm chí, giống như trước kia, chết trên thập tự giá vì con người. Kể từ khi Jêsus rời khỏi, các môn đồ đã đi theo Ngài, cũng như mọi thánh đồ đã được cứu nhân danh Ngài, đã tuyệt vọng mong ngóng Ngài và chờ đợi Ngài. Tất cả những người đã được cứu bởi ân điển của Jêsus Christ trong Thời đại Ân điển đã mong mỏi ngày hoan hỉ đó vào thời kỳ cuối cùng khi Jêsus là Đấng Cứu Thế giáng xuống trên một đám mây trắng để hiện ra trước tất cả mọi người. Tất nhiên, đây cũng là mong muốn chung của tất cả những ai chấp nhận danh Jêsus là Đấng Cứu Thế ngày nay. Mọi người trong vũ trụ biết về sự cứu rỗi của Jêsus là Đấng Cứu Thế đều đang tuyệt vọng khao khát Jêsus Christ đến bất ngờ để hoàn thành những gì Jêsus đã phán khi còn ở trần gian: “Ta sẽ đến giống như lúc Ta đã rời khỏi.” Con người tin rằng, sau sự đóng đinh và phục sinh, Jêsus đã trở lại thiên đàng trên một đám mây trắng để nhận lấy vị trí của Ngài ở bên tay phải của Đấng Chí Cao. Theo cách tương tự, Jêsus sẽ lại giáng xuống trên một đám mây trắng (đám mây này chỉ về đám mây mà Jêsus đã cưỡi khi Ngài trở lại thiên đàng), giữa những người đã tuyệt vọng khao khát Ngài hàng nghìn năm qua, và Ngài sẽ mang hình ảnh và mặc quần áo của người Do Thái. Sau khi hiện ra cho con người, Ngài sẽ ban cho họ thức ăn, khiến nước sống tuôn ra cho họ, và sẽ sống giữa con người, đầy ân điển và đầy tình yêu thương, sống động và chân thực. Tất cả những quan niệm như thế là những gì mà người ta tin tưởng. Tuy nhiên, Jêsus là Đấng Cứu Thế đã không làm điều này; Ngài đã làm ngược lại với những gì con người quan niệm. Ngài đã không đến giữa những người khao khát sự trở lại của Ngài, và Ngài đã không hiện ra cho tất cả mọi người trong khi cưỡi trên đám mây trắng. Ngài đã đến rồi, nhưng con người không biết Ngài, và vẫn không hay biết gì về Ngài. Con người chỉ đơn thuần là đang chờ đợi Ngài một cách không mục đích, không biết được rằng Ngài đã giáng xuống trên một “đám mây trắng”, (đám mây là Thần của Ngài, lời của Ngài, toàn bộ tâm tính của Ngài và mọi thứ về Ngài), và hiện giờ đang ở giữa một nhóm người chiến thắng mà Ngài sẽ tạo ra trong những ngày sau rốt. Con người không biết điều này: Bất chấp mọi tình cảm và tình yêu thương mà Đấng Cứu Thế Jêsus thánh khiết dành cho con người, làm sao Ngài có thể làm việc trong những “đền thờ” bị trú ngụ bởi những linh hồn ô uế và bất khiết đó? Mặc dù con người đang chờ đợi sự hiện đến của Ngài, nhưng làm sao Ngài có thể hiện ra cho những người ăn thịt của kẻ bất chính, uống máu của kẻ bất chính, và mặc quần áo của kẻ bất chính, là những người tin vào Ngài nhưng không biết Ngài, và là những người không ngừng đe dọa Ngài? Con người chỉ biết rằng Jêsus là Đấng Cứu Thế đầy tình yêu thương và tràn đầy lòng thương xót, và rằng Ngài là của lễ chuộc tội, đầy dẫy sự cứu chuộc. Tuy nhiên, con người không biết rằng Ngài là chính là Đức Chúa Trời, Đấng tràn đầy sự công chính, oai nghi, thịnh nộ và phán xét, sở hữu thẩm quyền và đầy phẩm giá. Do đó, mặc dù con người háo hức khao khát và khẩn cầu sự trở lại của Đấng Cứu Chuộc, và thậm chí những lời cầu nguyện của họ lay động Thiên đàng, nhưng Jêsus là Đấng Cứu Thế vẫn không hiện ra cho những người tin vào Ngài nhưng không biết Ngài.

11.18.2019

Chương 22

Tin vào Chúa không phải điều dễ thực hiện. Ngươi mò mẫm, ăn mọi thứ, và nghĩ rằng tất cả thật thú vị, thật ngon lành! Vẫn có một số người đang tán đồng – họ chỉ là không có sự phân định trong tâm thần mình. Rất đáng để dành thời gian tóm tắt kinh nghiệm này. Vào những ngày sau rốt, mọi loại thần sẽ xuất hiện để đóng vai trò của chúng, công khai thách thức những bước tiến của con cái Chúa và dự phần vào việc lật đổ sự kiến thiết của giáo hội. Nếu ngươi xem nhẹ việc này, cho Sa-tan cơ hội để hoạt động, thì nó sẽ tạo ra một giáo hội hỗn loạn, người người sẽ hoảng sợ và cảm thấy tuyệt vọng, và trong những trường hợp nghiêm trọng họ sẽ đánh mất các khải tượng. Như thế, cái giá khó nhọc Ta đã phải trả nhiều năm qua tất cả sẽ trở nên vô ích.

11.17.2019

Xét về tên gọi và danh tính

Nếu muốn được phù hợp để Đức Chúa Trời sử dụng, các ngươi phải biết công tác của Đức Chúa Trời; các ngươi phải biết công tác mà Ngài đã làm trước đây (trong Tân và Cựu Ước), và hơn thế nữa, các ngươi phải biết công tác của Ngài ngày nay. Điều đó có nghĩa là, các ngươi phải biết ba giai đoạn công tác của Đức Chúa Trời trong 6.000 năm. Nếu ngươi được yêu cầu truyền bá Phúc Âm, thì ngươi sẽ không thể làm như vậy nếu không biết công tác của Đức Chúa Trời. Ai đó có thể hỏi ngươi về những điều Đức Chúa Trời của các ngươi đã phán về Kinh Thánh, Cựu Ước, công tác và những lời của Jêsus lúc đó. Nếu ngươi không thể nói về câu chuyện bên trong Kinh Thánh, thì họ sẽ không bị thuyết phục. Ban đầu, Jêsus đã phán nhiều về Cựu Ước với các môn đệ của Ngài. Mọi thứ họ đã đọc đều là từ Cựu Ước; Tân Ước chỉ được viết vài thập kỷ sau khi Jêsus đã bị đóng đinh mà thôi. Để truyền bá Phúc Âm, các ngươi chủ yếu phải nắm bắt lẽ thật bên trong của Kinh Thánh, và công tác của Đức Chúa Trời ở Y-sơ-ra-ên, nghĩa là công tác đã được Đức Giê-hô-va thực hiện. Và các ngươi cũng phải hiểu công tác đã được Jêsus thực hiện. Đây là những vấn đề mà tất cả mọi người quan tâm nhất, và câu chuyện bên trong của hai giai đoạn công tác đó là điều mà họ chưa được nghe. Khi truyền bá Phúc Âm, trước tiên hãy gạt sang một bên câu chuyện về công tác của Đức Thánh Linh ngày nay. Giai đoạn công tác này nằm ngoài tầm với của họ, bởi vì điều các ngươi theo đuổi là điều cao cả nhất: một kiến thức về Đức Chúa Trời, và một kiến thức về công tác của Đức Thánh Linh, và không có gì cao quý hơn hai điều này. Nếu trước tiên ngươi nói về điều cao cả, thì sẽ là quá nhiều đối với họ, vì không ai trong số họ đã trải nghiệm công tác như vậy bởi Đức Thánh Linh; nó không có tiền lệ, và không dễ để con người chấp nhận. Những kinh nghiệm của họ là những điều xưa cũ từ quá khứ, với một vài công tác thỉnh thoảng của Đức Thánh Linh. Những gì họ trải nghiệm không phải là công tác của Đức Thánh Linh ngày nay, hoặc ý muốn của Đức Chúa Trời ngày nay. Họ vẫn hành động theo các thực hành xưa cũ, không có sự sáng mới, hoặc những điều mới mẻ.
Trong thời đại của Jêsus, Đức Thánh Linh đã chủ yếu thực hiện công tác của Ngài nơi Jêsus, trong khi những người hầu việc Đức Giê-hô-va mặc áo choàng của thầy tế lễ trong đền thờ đã làm như vậy với lòng trung thành không lay chuyển. Họ cũng đã có công tác của Đức Thánh Linh, nhưng không thể nắm bắt được ý muốn hiện tại của Đức Chúa Trời, và chỉ đơn thuần là giữ trung tín với Đức Giê-hô-va theo các thực hành xưa cũ, không có sự hướng dẫn mới. Jêsus đã đến và mang lại công tác mới. Những người hầu việc trong đền thờ đã không có sự hướng dẫn mới, họ cũng không có công tác mới. Hầu việc trong đền thờ, họ chỉ đơn thuần có thể duy trì các thực hành xưa cũ; nếu không rời khỏi đền thờ, họ không thể có sự bước vào mới. Công tác mới đã được Jêsus mang đến, và Jêsus đã không vào trong đền thờ để làm công tác của Ngài. Ngài chỉ làm công tác của mình bên ngoài đền thờ, vì phạm vi công tác của Đức Chúa Trời đã thay đổi từ lâu. Ngài đã không làm việc trong đền thờ, và khi con người hầu việc Ngài tại đó, điều đó chỉ có thể giữ mọi thứ y như hiện trạng, mà không thể mang lại bất kỳ công tác mới nào. Tương tự, những người mộ đạo ngày nay vẫn tôn sùng Kinh Thánh. Nếu ngươi truyền bá Phúc Âm cho họ, thì họ sẽ tranh luận với ngươi về Kinh Thánh; và nếu, khi họ nói về Kinh Thánh, ngươi không nói nên lời, không có gì để nói, thì họ sẽ nghĩ rằng các ngươi thật ngu ngốc trong đức tin của mình. Họ sẽ nói: “Bạn thậm chí không biết Kinh Thánh, lời của Đức Chúa Trời, làm sao bạn có thể nói rằng bạn tin vào Đức Chúa Trời?” Khi đó họ sẽ xem thường ngươi, và cũng sẽ nói: “Vì Đấng mà các bạn tin vào là Đức Chúa Trời, tại sao Ngài không bảo với các bạn mọi điều về Cựu và Tân Ước? Vì Ngài đã mang vinh quang của Ngài từ Y-sơ-ra-ên đến phương Đông, tại sao Ngài không biết công tác được thực hiện ở Y-sơ-ra-ên? Tại sao Ngài không biết công tác của Jêsus? Nếu các bạn không biết, thì điều đó chứng tỏ rằng các bạn chưa được nói cho biết; vì Ngài là sự nhập thể thứ hai của Jêsus, làm sao Ngài có thể không biết những điều này? Jêsus đã biết công tác do Đức Giê-hô-va thực hiện; làm sao Ngài có thể không biết?” Khi đến thời điểm, tất cả họ sẽ hỏi ngươi những câu hỏi như vậy. Đầu óc của họ đầy những thứ như vậy; làm sao họ có thể không hỏi? Những người ở trong dòng này không tập trung vào Kinh Thánh, vì các ngươi đã theo kịp công tác từng bước một được thực hiện bởi Đức Chúa Trời ngày nay, các ngươi đã tận mắt chứng kiến công tác từng bước một này, các ngươi đã trông thấy rõ ràng ba giai đoạn của công tác, và vì vậy các ngươi đã phải đặt Kinh Thánh xuống và ngừng nghiên cứu nó. Nhưng họ không thể không nghiên cứu nó, vì họ không có kiến thức về công tác từng bước một này. Một số người sẽ hỏi: “Sự khác biệt giữa công tác được Đức Chúa Trời nhập thể thực hiện và công tác của các tiên tri và các sứ đồ thời xưa là gì? Đa-vít cũng đã được gọi là Chúa, và Jêsus cũng vậy; mặc dù công tác họ đã làm là khác nhau, nhưng họ đều đã được gọi cùng một tên. Tại sao bạn lại nói danh tính của họ không giống nhau? Những gì Giăng đã chứng kiến là một khải tượng, một điều cũng đã đến từ Đức Thánh Linh, và người đã có thể nói những lời mà Đức Thánh Linh dự định nói; tại sao danh tính của Giăng lại khác với của Jêsus?” Những lời Jêsus phán ra đã có thể đại diện đầy đủ cho Đức Chúa Trời, và đã đại diện đầy đủ cho công tác của Đức Chúa Trời. Những gì Giăng đã thấy là một khải tượng, và người đã không có khả năng đại diện hoàn toàn cho công tác của Đức Chúa Trời. Tại sao Giăng, Phi-e-rơ và Phao-lô đã nói nhiều lời - như Jêsus đã phán - nhưng họ lại không có cùng danh tính với Jêsus? Chủ yếu là vì công tác mà họ đã làm là khác nhau. Jêsus đã đại diện cho Thần của Đức Chúa Trời, và là Thần của Đức Chúa Trời hành động trực tiếp. Ngài đã làm công tác của thời đại mới, công tác mà chưa ai từng làm trước đó. Ngài đã mở ra một con đường mới, Ngài đã đại diện cho Đức Giê-hô-va, và Ngài đã đại diện cho chính Đức Chúa Trời. Trong khi đó với Phi-e-rơ, Phao-lô và Đa-vít, bất kể họ đã được gọi là gì, họ đã chỉ đại diện cho danh tính của một loài thọ tạo của Đức Chúa Trời, và đã được sai phái bởi Jêsus hoặc Đức Giê-hô-va. Vì vậy, cho dù họ đã làm bao nhiêu công tác, cho dù họ đã thực hiện những phép lạ vĩ đại ra sao, họ vẫn chỉ là những loài thọ tạo của Đức Chúa Trời, và không có khả năng đại diện cho Thần của Đức Chúa Trời. Họ đã làm việc nhân danh Đức Chúa Trời hoặc sau khi được Đức Chúa Trời sai phái; hơn nữa, họ đã làm việc trong những thời đại do Jêsus hoặc Đức Giê-hô-va mở đầu, và công tác họ đã làm không tách biệt. Xét cho cùng, họ đơn thuần chỉ là những loài thọ tạo của Đức Chúa Trời mà thôi. Trong Cựu Ước, nhiều tiên tri đã tiên báo, hoặc viết các sách tiên tri. Không ai nói rằng họ là Đức Chúa Trời, nhưng ngay khi Jêsus bắt đầu làm việc, Thần của Đức Chúa Trời đã làm chứng cho Ngài là Đức Chúa Trời. Tại sao như thế? Tại thời điểm này ngươi nên biết rồi mới phải! Trước đây, các sứ đồ và các tiên tri đã viết các thư tín khác nhau, và đưa ra nhiều lời tiên tri. Về sau, người ta đã chọn một vài điều trong số chúng để đưa vào Kinh Thánh, và một số đã bị thất lạc. Vì có những người nói rằng mọi thứ họ nói ra đều đến từ Đức Thánh Linh, tại sao một vài điều trong số đó được xem là tốt, và một vài điều trong số đó bị xem là xấu? Và tại sao một số đã được chọn, còn số khác thì không? Nếu chúng thực sự là những lời được phán bởi Đức Thánh Linh, liệu mọi người có cần thiết phải chọn lọc chúng không? Tại sao các bản ký thuật về những lời được Jêsus phán và công tác mà Ngài đã làm lại khác nhau ở mỗi sách trong Bốn Sách Phúc Âm? Đây chẳng phải là lỗi của những người đã ghi chép lại chúng sao? Một số người sẽ hỏi: “Vì các thư tín được viết bởi Phao-lô và các tác giả khác của Tân Ước và công tác họ đã làm một phần xuất phát từ ý muốn của con người, và đã bị trộn lẫn với các quan niệm của con người, vậy thì không có sự ô uế của con người trong những lời mà Ngài (Đức Chúa Trời) phán ngày nay sao? Chúng có thực sự không chứa bất kỳ khái niệm nào của con người không?” Giai đoạn công tác này được thực hiện bởi Đức Chúa Trời hoàn toàn khác với những gì đã được thực hiện bởi Phao-lô cùng nhiều sứ đồ và tiên tri. Không chỉ có sự khác biệt ở danh tính, mà về cơ bản, có một sự khác biệt ở công tác được thực hiện. Sau khi Phao-lô bị đánh gục và sấp mình xuống trước Đức Chúa Trời, người đã được Đức Thánh Linh hướng dẫn để làm việc, và người đã trở thành một người được sai đi. Và vì vậy người đã viết các thư tín cho các hội thánh, và tất cả các thư tín này đều tuân theo những lời dạy dỗ của Jêsus. Phao-lô đã được Chúa sai đi làm việc nhân danh Đức Chúa Jêsus, nhưng khi chính Đức Chúa Trời đến, Ngài đã không làm việc nhân danh ai cả, và đã không đại diện cho bất kỳ ai ngoài Thần của Đức Chúa Trời trong công tác của Ngài. Đức Chúa Trời đã đến để trực tiếp thực hiện công tác của Ngài: Ngài đã không bị hoàn thiện bởi con người, và công tác của Ngài đã không được thực hiện theo những lời dạy dỗ của bất kỳ người nào. Trong giai đoạn công tác này, Đức Chúa Trời không lãnh đạo bằng cách phán về những kinh nghiệm cá nhân của Ngài, mà thay vào đó trực tiếp thực hiện công tác của Ngài, theo những gì Ngài có. Chẳng hạn, thử thách của những kẻ phục dịch, những thời điểm trừng phạt, thử thách của cái chết, những thời điểm yêu mến Đức Chúa Trời… Đây là tất cả những công tác chưa từng được thực hiện trước đây, và là công tác của thời đại hiện nay, chứ không phải là những kinh nghiệm của con người. Trong những lời Ta đã phán, điều nào là những kinh nghiệm của con người? Chẳng phải tất cả chúng đều đến trực tiếp từ Thần, và chẳng phải chúng được Thần ban phát sao? Chỉ là phẩm chất của ngươi kém cỏi đến mức ngươi không thể nhìn thấu lẽ thật! Con đường sự sống thực tế mà Ta nói đến là để dẫn đường, và đã chưa từng được ai nói đến trước đây, cũng chưa từng có ai trải nghiệm con đường này, hoặc biết về thực tế này. Trước khi Ta phán ra những lời này, không một ai đã từng nói chúng. Không một ai đã từng nói về những trải nghiệm như vậy, họ cũng chưa từng nói đến những chi tiết như vậy, và hơn nữa, không một ai đã từng chỉ ra những tình trạng như vậy để tiết lộ những điều này. Không một ai đã từng dẫn dắt con đường mà Ta dẫn dắt ngày nay, và nếu nó được dẫn dắt bởi con người, thì đó không phải là một con đường mới. Hãy lấy Phao-lô và Phi-e-rơ làm ví dụ. Họ đã không có những kinh nghiệm cá nhân của riêng mình trước khi bước đi trên[a] con đường do Jêsus dẫn dắt. Chỉ sau khi Jêsus đã dẫn đường thì họ mới trải nghiệm những lời Jêsus đã phán và con đường do Ngài dẫn dắt; từ đó họ đã có được nhiều kinh nghiệm và đã viết các thư tín. Và như vậy, những kinh nghiệm của con người không giống với công tác của Đức Chúa Trời, và công tác của Đức Chúa Trời không giống với kiến thức được mô tả bởi các quan niệm và kinh nghiệm của con người. Ta đã phán, hết lần này đến lần khác, rằng ngày nay Ta đang dẫn dắt một con đường mới, đang thực hiện công tác mới, và công tác cùng những lời phán của Ta khác với của Giăng và tất cả các tiên tri khác. Ta không bao giờ thu thập kinh nghiệm trước rồi mới phán chúng cho các ngươi - điều đó không hề đúng. Nếu như đúng, chẳng phải điều đó đã trì hoãn các ngươi từ lâu sao? Trong quá khứ, kiến thức mà nhiều người đã nói đến cũng được đề cao, nhưng tất cả những lời của họ chỉ được nói dựa trên lời của những người được gọi là những nhân vật thuộc linh. Chúng đã không dẫn đường, nhưng xuất phát từ những kinh nghiệm của họ, xuất phát từ những gì họ đã thấy, và từ kiến thức của họ. Một số là các quan niệm của họ, và một số là kinh nghiệm mà họ đã tổng kết được. Ngày nay, bản chất công tác của Ta hoàn toàn khác với của họ. Ta đã không trải nghiệm việc bị người khác dẫn dắt, Ta cũng không chấp nhận bị người khác hoàn thiện. Hơn nữa, mọi điều Ta đã phán và thông công khác với của bất kỳ ai khác, và chưa từng được nói bởi bất kỳ ai khác. Ngày nay, bất kể các ngươi là ai, công tác của các ngươi được thực hiện dựa trên cơ sở của những lời Ta phán. Nếu không có những lời phán và công tác này, ai sẽ có khả năng trải nghiệm những điều này (thử thách của những kẻ phục dịch, những thời điểm trừng phạt…), và ai sẽ có thể nói đến kiến thức như vậy? Ngươi thực sự không có khả năng nhìn thấy điều này sao? Bất kể là bước nào của công tác, ngay khi lời của Ta được phán ra, các ngươi bắt đầu thông công theo lời của Ta, hành động theo chúng, và đó không phải là con đường mà bất kỳ ai trong các ngươi đã nghĩ đến. Đã đi xa đến mức này, các ngươi không có khả năng nhìn thấy một vấn đề rõ ràng và đơn giản như vậy sao? Nó không phải là một con đường mà ai đó đã nghĩ ra, nó cũng không được dựa trên bất kỳ nhân vật thuộc linh nào. Nó là một con đường mới, và thậm chí nhiều lời đã từng được Jêsus phán ra không còn được áp dụng nữa. Những gì Ta phán là công tác mở ra một kỷ nguyên mới, và đó là công tác độc lập; công tác Ta làm và những lời Ta phán đều hoàn toàn mới. Chẳng phải đây là công tác mới của ngày nay sao? Công tác của Jêsus cũng đã giống như vậy. Công tác của Ngài cũng đã khác với của những người trong đền thờ, nó cũng khác với công tác của những người Pha-ri-si, và cũng đã không có bất kỳ sự tương đồng nào với công tác được thực hiện bởi tất cả dân Y-sơ-ra-ên. Sau khi chứng kiến điều đó, mọi người đã không thể đưa ra quyết định: “Nó có thực sự đã được thực hiện bởi Đức Chúa Trời không?” Jêsus đã không tuân giữ luật pháp của Đức Giê-hô-va; khi Ngài đến để dạy dỗ con người, tất cả những gì Ngài đã phán đều mới mẻ và khác biệt so với những gì mà các thánh đồ xưa và các tiên tri của Cựu Ước đã nói, và vì điều này, mọi người vẫn không chắc chắn. Đây là điều khiến cho con người rất khó xử. Trước khi chấp nhận giai đoạn công tác mới này, con đường mà đa số các ngươi đã đi là thực hành và bước vào dựa trên nền tảng của những nhân vật thuộc linh đó. Nhưng ngày nay, công tác mà Ta làm rất khác biệt, và vì vậy các ngươi không thể quyết định liệu nó có đúng hay không. Ta không quan tâm ngươi đã đi con đường nào trước đây, Ta cũng không hứng thú với việc ngươi đã ăn “thức ăn” của ai, hoặc ngươi đã nhận ai làm “cha” mình. Vì Ta đã đến và mang công tác mới để hướng dẫn con người, tất cả những ai theo Ta đều phải hành động theo những gì Ta phán. Cho dù “gia đình” mà ngươi xuất thân quyền lực ra sao, ngươi phải theo Ta, ngươi không được hành động theo những thực hành trước đây của mình, “cha nuôi” của ngươi nên rời vị trí, và ngươi nên đến trước Đức Chúa Trời của ngươi để tìm kiếm phần xứng đáng của mình. Toàn bộ của ngươi đều nằm trong tay Ta và ngươi không nên dành quá nhiều niềm tin mù quáng cho cha nuôi của mình; nó không thể hoàn toàn kiểm soát ngươi. Công tác của ngày nay là độc lập. Tất cả những gì Ta phán ngày nay rõ ràng không dựa trên nền tảng từ quá khứ; nó là một khởi đầu mới, và nếu ngươi nói rằng nó được tạo ra bởi bàn tay của con người, thì ngươi là một kẻ mù quáng vô phương cứu chữa!
Ê-sai, Ê-xê-chi-ên, Môi-se, Đa-vít, Áp-ra-ham và Đa-ni-ên là những nhà lãnh đạo hoặc tiên tri trong số những người được chọn của Y-sơ-ra-ên. Tại sao họ đã không được gọi là Đức Chúa Trời? Tại sao Đức Thánh Linh đã không làm chứng cho họ? Tại sao Đức Thánh Linh đã làm chứng cho Jêsus ngay khi Ngài bắt đầu công tác và bắt đầu phán những lời của Ngài? Và tại sao Đức Thánh Linh đã không làm chứng cho những người khác? Họ, những con người của xác thịt, tất cả đều đã được gọi là “Chúa”. Bất kể họ đã được gọi là gì, công tác của họ đại diện cho hữu thể và bản chất của họ, còn hữu thể và bản chất của họ đại diện cho danh tính của họ. Bản chất của họ không liên quan đến tên gọi của họ; nó được đại diện bởi những gì họ đã bày tỏ, và những gì họ đã sống thể hiện ra. Trong Cựu Ước, không có gì khác thường khi được gọi là Chúa, và một người có thể được gọi theo bất kỳ cách nào, nhưng bản chất và danh tính vốn có của họ là không đổi. Trong số những chirst giả, những tiên tri giả và những kẻ lừa gạt, chẳng phải cũng có những người được gọi là “Đức Chúa Trời” hay sao? Và tại sao họ không phải là Đức Chúa Trời? Bởi vì họ không có khả năng làm công tác của Đức Chúa Trời. Về cơ bản họ là con người, những kẻ lừa gạt mọi người, không phải là Đức Chúa Trời, và vì vậy họ không có danh tính của Đức Chúa Trời. Chẳng phải Đa-vít cũng đã được gọi là Chúa giữa mười hai chi phái sao? Jêsus cũng đã được gọi là Chúa; tại sao chỉ một mình Jêsus được gọi là Đức Chúa Trời nhập thể? Chẳng phải Giê-rê-mi cũng đã được biết đến như Con người sao? Và chẳng phải Jêsus đã được biết đến như Con người sao? Tại sao Jêsus đã bị đóng đinh thay mặt cho Đức Chúa Trời? Chẳng phải vì bản chất của Ngài là khác biệt sao? Chẳng phải vì công tác Ngài đã làm là khác biệt sao? Danh hiệu có quan trọng không? Mặc dù Jêsus cũng đã được gọi là Con người, nhưng Ngài là sự nhập thể đầu tiên của Đức Chúa Trời, Ngài đã đến để nắm quyền, và hoàn thành công tác cứu chuộc. Điều này chứng tỏ rằng danh tính và bản chất của Jêsus khác với những người khác cũng đã được gọi là Con người. Ngày nay, ai trong các ngươi dám nói rằng mọi lời được nói ra bởi những người đã được Đức Thánh Linh sử dụng đều đến từ Đức Thánh Linh? Có ai dám nói những điều như thế không? Nếu ngươi nói những điều như thế, thì tại sao sách tiên tri của E-xơ-ra đã bị loại bỏ, và tại sao điều tương tự đã được thực hiện đối với sách của các thánh đồ và tiên tri cổ đại đó? Nếu tất cả chúng đều đến từ Đức Thánh Linh, thì tại sao các ngươi lại dám đưa ra những lựa chọn thất thường như vậy? Ngươi có đủ tư cách để lựa chọn công tác của Đức Thánh Linh sao? Nhiều câu chuyện từ Y-sơ-ra-ên cũng đã bị loại bỏ. Và nếu ngươi tin rằng tất cả các tác phẩm này của quá khứ đều đến từ Đức Thánh Linh, thì tại sao một số sách lại bị loại bỏ? Nếu tất cả chúng đều đã đến từ Đức Thánh Linh, tất cả chúng nên được giữ lại, và được gửi đến cho các anh chị em của các hội thánh đọc. Chúng không nên được lựa chọn hoặc bị loại bỏ bởi ý muốn của con người; làm vậy là sai. Nói rằng những kinh nghiệm của Phao-lô và Giăng đã bị trộn lẫn với những cái nhìn cá nhân của họ không có nghĩa là những kinh nghiệm và kiến thức của họ đã xuất phát từ Sa-tan, mà chỉ là họ đã có những điều xuất phát từ những kinh nghiệm và những cái nhìn cá nhân của họ. Kiến thức của họ là dựa theo nền tảng của những kinh nghiệm thực tế vào thời điểm đó, và ai có thể tự tin nói rằng tất cả đều đã đến từ Đức Thánh Linh? Nếu tất cả Bốn Sách Phúc Âm đều đến từ Đức Thánh Linh, thì tại sao Ma-thi-ơ, Mác, Lu-ca và Giăng mỗi người lại nói điều gì đó khác biệt về công tác của Jêsus? Nếu ngươi không tin điều này, thì hãy xem các bản ký thuật trong Kinh Thánh về cách Phi-e-rơ đã chối Chúa ba lần: Tất cả chúng đều khác nhau, và mỗi bản ký thuật đều có những đặc điểm riêng của chúng. Nhiều kẻ ngu dốt nói rằng: “Đức Chúa Trời nhập thể cũng là một con người, vậy có thể nào những lời Ngài phán hoàn toàn đến từ Đức Thánh Linh không? Nếu những lời của Phao-lô và Giăng đã bị trộn lẫn với ý muốn của con người, thì những lời mà Ngài phán có thực sự không bị trộn lẫn với ý muốn của con người không?” Những kẻ nói những điều như vậy là những kẻ mù quáng và ngu dốt! Hãy đọc kỹ Bốn Sách Phúc Âm; đọc những gì chúng đã ghi lại về những điều mà Jêsus đã làm, và những lời Ngài đã phán. Mỗi bản ký thuật đều đơn giản là khá khác nhau, và mỗi bản ký thuật đều có góc nhìn riêng của nó. Nếu những gì được viết bởi các tác giả của các sách này đều đến từ Đức Thánh Linh, thì tất cả sẽ giống nhau và nhất quán. Vậy thì tại sao lại có những khác biệt? Chẳng phải con người cực kỳ ngu ngốc khi không thể nhìn thấy điều này sao? Nếu ngươi được yêu cầu làm chứng cho Đức Chúa Trời, ngươi có thể cung cấp loại chứng ngôn nào? Một cách nhận biết Đức Chúa Trời như vậy có thể làm chứng cho Ngài không? Nếu những người khác hỏi ngươi: “Nếu các bản ghi chép của Giăng và Lu-ca bị trộn lẫn với ý muốn của con người, thì chẳng lẽ những lời được phán ra bởi Đức Chúa Trời của các bạn lại không bị trộn lẫn với ý muốn của con người hay sao?” thì ngươi có thể đưa ra một câu trả lời rõ ràng không? Sau khi Lu-ca và Ma-thi-ơ đã nghe những lời của Jêsus và thấy công tác của Jêsus, họ đã nói về kiến thức của riêng họ, theo cách hồi tưởng chi tiết một số sự việc đã được Jêsus thực hiện. Ngươi có thể nói rằng kiến thức của họ đã được mặc khải hoàn toàn bởi Đức Thánh Linh không? Bên ngoài Kinh Thánh, đã có nhiều nhân vật thuộc linh có kiến thức cao hơn họ; tại sao những lời nói của họ không được các thế hệ sau đón nhận? Chẳng phải họ cũng đã được Đức Thánh Linh sử dụng sao? Hãy biết rằng trong công tác của ngày nay, Ta không phải đang phán về cái nhìn của riêng Ta dựa trên nền tảng công tác của Jêsus, Ta cũng không phải đang phán về kiến thức của riêng Ta đối với bối cảnh công tác của Jêsus. Jêsus đã làm công tác gì vào thời điểm đó? Và Ta đang làm công tác gì ngày nay? Những gì Ta làm và phán không có tiền lệ. Con đường mà Ta đi ngày nay chưa từng được đặt chân lên trước đây, nó chưa từng được đi bởi những người của các thời đại và các thế hệ đã qua. Ngày nay, nó đã được mở ra, và chẳng phải đây là công tác của Thần sao? Mặc dù nó là công tác của Đức Thánh Linh, nhưng tất cả các nhà lãnh đạo của quá khứ đều đã thực hiện công tác của họ dựa trên nền tảng của những người khác; tuy nhiên, công tác của chính Đức Chúa Trời thì khác. Giai đoạn công tác của Jêsus cũng vậy: Ngài đã mở ra một con đường mới. Khi Ngài đến, Ngài đã rao giảng Phúc Âm của vương quốc thiên đàng, và đã phán rằng con người nên ăn năn và xưng tội. Sau khi Jêsus đã hoàn thành công tác của Ngài, Phi-e-rơ và Phao-lô cùng những người khác bắt đầu tiếp tục công tác của Jêsus. Sau khi Jêsus đã bị đóng đinh trên thập tự giá và thăng thiên, họ được Thần sai đi để rao truyền con đường của thập tự giá. Mặc dù những lời của Phao-lô đã được tán dương, nhưng chúng cũng đã được dựa trên nền tảng được đặt ra bởi những gì Jêsus đã phán, chẳng hạn như sự nhịn nhục, tình yêu thương, sự chịu khổ, việc trùm đầu, phép báp-têm, hoặc các giáo lý khác phải được tuân theo. Tất cả điều này đã được dựa trên nền tảng những lời của Jêsus. Họ đã không có khả năng mở ra một con đường mới, vì tất cả họ đều là những người được Đức Chúa Trời sử dụng.
Những lời phán và công tác của Jêsus lúc bấy giờ đã không tuân theo giáo lý, và Ngài đã không thực hiện công tác của Ngài theo công tác của luật pháp trong Cựu Ước. Nó theo công tác phải được thực hiện trong Thời đại Ân điển. Ngài đã dốc sức theo công tác mà Ngài đã đưa ra, theo kế hoạch của riêng Ngài, và theo chức vụ của Ngài; Ngài đã không làm việc theo luật pháp của Cựu Ước. Không điều nào Ngài đã làm là theo luật pháp của Cựu Ước, và Ngài đã không đến làm việc để làm ứng nghiệm lời của các tiên tri. Mỗi giai đoạn công tác của Đức Chúa Trời rõ ràng không phải để làm ứng nghiệm những lời tiên báo của các tiên tri thời xưa, và Ngài đã không tuân theo giáo lý hoặc cố tình thực thi những lời tiên báo của các tiên tri thời xưa. Tuy nhiên, những hành động của Ngài đã không phá vỡ những lời tiên báo của các nhà tiên tri thời xưa, và chúng cũng không làm xáo trộn công tác mà Ngài đã thực hiện trước đây. Điểm nổi bật trong công tác của Ngài là không tuân theo bất kỳ giáo lý nào, mà thực hiện công tác mà chính Ngài phải làm. Ngài không phải là một nhà tiên tri hoặc người tiên kiến, mà là một người thực hiện, người đã thực sự đến để làm công tác mà Ngài phải làm, đã đến để mở ra kỷ nguyên mới của Ngài và thực hiện công tác mới của Ngài. Dĩ nhiên, khi Jêsus đến để thực hiện công tác của Ngài, Ngài cũng đã làm ứng nghiệm nhiều lời được nói ra bởi các tiên tri thời xưa trong Cựu Ước. Vì vậy, công tác của ngày nay cũng đã làm ứng nghiệm những lời tiên báo của các tiên tri thời xưa trong Cựu Ước. Chỉ là Ta không giữ “quyển niên giám cũ vàng”, chỉ thế thôi. Vì có nhiều việc hơn mà Ta phải làm, có nhiều lời hơn mà Ta phải phán với các ngươi, công tác và những lời này có tầm quan trọng lớn hơn nhiều so với việc giải thích các phân đoạn trong Kinh Thánh, bởi vì công tác như thế không có ý nghĩa hoặc giá trị to lớn cho các ngươi, và không thể giúp các ngươi, hoặc thay đổi các ngươi. Ta dự định làm công tác mới không phải để làm ứng nghiệm bất kỳ phân đoạn nào trong Kinh Thánh. Nếu Đức Chúa Trời chỉ đến thế gian để làm ứng nghiệm lời của các tiên tri thời xưa của Kinh Thánh, thì ai là người vĩ đại hơn, Đức Chúa Trời nhập thể hay các tiên tri thời xưa đó? Rốt cuộc, các tiên tri cai quản Đức Chúa Trời, hay Đức Chúa Trời cai quản các tiên tri? Ngươi giải thích những lời này như thế nào?
Lúc đầu, khi Jêsus chưa chính thức thực hiện chức vụ của Ngài, giống như các môn đồ đi theo Ngài, đôi khi Ngài cũng đã tham dự các buổi nhóm, hát thánh ca, dâng lời ngợi khen và đọc Cựu Ước trong đền thờ. Sau khi Ngài chịu phép báp-têm và lên khỏi nước, Thánh Linh đã chính thức ngự xuống trên Ngài và bắt đầu làm việc, tiết lộ danh tính của Ngài và chức vụ mà Ngài phải đảm nhận. Trước đó, đã không ai biết danh tính của Ngài, và ngoài Ma-ri, thậm chí cả Giăng cũng không biết. Jêsus được 29 tuổi khi Ngài chịu phép báp-têm. Sau khi phép báp-têm của Ngài được hoàn tất, các từng trời đã được mở ra, và có một tiếng phán rằng: “Nầy là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đàng.” Một khi Jêsus đã chịu phép báp-têm, Đức Thánh Linh đã bắt đầu làm chứng cho Ngài theo cách này. Trước khi chịu phép báp-têm ở tuổi 29, Ngài đã sống cuộc đời của một người bình thường, ăn khi Ngài phải ăn, ngủ và ăn mặc một cách bình thường, và không có điều gì ở Ngài là khác với những người khác. Tất nhiên điều này chỉ là đối với đôi mắt xác thịt của con người. Đôi khi Ngài cũng đã yếu đuối, và đôi khi Ngài cũng đã không thể nhận thức rõ được mọi thứ, như được viết trong Kinh Thánh: Trí thông minh của Ngài đã phát triển cùng với tuổi tác của Ngài. Những lời này chỉ đơn thuần cho thấy rằng Ngài đã có một nhân tính bình thường và thông thường, và đã không đặc biệt khác với những người bình thường khác. Ngài cũng đã lớn lên như một người bình thường, và không có gì đặc biệt ở Ngài. Tuy nhiên, Ngài đã được sự chăm sóc và bảo vệ của Đức Chúa Trời. Sau khi chịu phép báp-têm, Ngài đã bắt đầu bị cám dỗ, sau đó Ngài đã bắt đầu thực hiện chức vụ của mình và làm việc, sở hữu quyền năng, sự khôn ngoan và thẩm quyền. Điều này không có nghĩa là Đức Thánh Linh đã không hành động nơi Ngài, hoặc đã không ở bên trong Ngài trước khi Ngài chịu phép báp-têm. Trước khi Ngài chịu phép báp-têm, Đức Thánh Linh cũng đã ngự bên trong Ngài nhưng chưa chính thức bắt đầu hành động, vì có những giới hạn khi Đức Chúa Trời làm công tác của Ngài, và hơn nữa, người bình thường có một quá trình trưởng thành bình thường. Đức Thánh Linh đã luôn sống trong Ngài. Khi Jêsus được sinh ra, Ngài khác với những người khác, và một ngôi sao mai xuất hiện; trước khi Ngài được sinh ra, một thiên sứ đã hiện ra với Giô-sép trong một giấc mơ và nói với người rằng Ma-ri sẽ sinh ra một bé trai, và rằng đứa trẻ đã được thai dựng bởi Đức Thánh Linh. Không phải ngay sau khi Jêsus chịu phép báp-têm, cũng là lúc Đức Thánh Linh bắt đầu công tác của Ngài, thì Đức Thánh Linh mới ngự xuống trên Ngài. Việc nói rằng Đức Thánh Linh đã ngự xuống như chim bồ câu trên Ngài có liên quan đến sự khởi đầu chính thức cho chức vụ của Ngài. Thần của Đức Chúa Trời đã ở trong Ngài trước đó, nhưng Ngài chưa bắt đầu hành động, vì vẫn chưa đến lúc, và Thần đã không bắt đầu hành động một cách vội vàng. Thần đã làm chứng cho Ngài thông qua phép báp-têm. Khi Ngài lên khỏi mặt nước, Thần đã bắt đầu chính thức hành động nơi Ngài, điều này biểu thị rằng xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời đã bắt đầu thực hiện chức vụ của Ngài, và đã bắt đầu công tác cứu chuộc, nghĩa là Thời đại Ân điển đã chính thức bắt đầu. Và vì vậy, có một thời điểm cho công tác của Đức Chúa Trời, bất kể Ngài làm công tác gì. Sau phép báp-têm của Ngài, đã không có những thay đổi đặc biệt ở Jêsus; Ngài vẫn còn ở trong xác thịt nguyên thủy của mình. Chỉ là Ngài đã bắt đầu công tác của mình và tiết lộ danh tính của mình, và Ngài đã có đầy đủ thẩm quyền và quyền năng. Về mặt này, Ngài đã khác với trước đây. Danh tính của Ngài đã khác, nghĩa là đã có một sự thay đổi đáng kể về địa vị của Ngài; đây là chứng ngôn của Đức Thánh Linh, chứ không phải là công tác được thực hiện bởi con người. Lúc đầu, mọi người đã không biết, và họ chỉ biết được đôi chút một khi Đức Thánh Linh làm chứng cho Jêsus theo cách như vậy. Nếu Jêsus đã làm công tác vĩ đại trước khi Đức Thánh Linh làm chứng cho Ngài, nhưng không có chứng ngôn của chính Đức Chúa Trời, thì bất kể công tác của Ngài vĩ đại ra sao, mọi người sẽ không bao giờ biết đến danh tính của Ngài, vì mắt người sẽ không có khả năng nhìn thấy điều đó. Nếu không có bước làm chứng của Đức Thánh Linh, không ai có thể nhận ra Ngài là Đức Chúa Trời nhập thể. Nếu sau khi Đức Thánh Linh đã làm chứng cho Ngài, Jêsus tiếp tục hành động theo cách tương tự, không có sự khác biệt nào, thì nó sẽ không có được hiệu quả như thế. Và qua đây chủ yếu cũng chứng minh được công tác của Đức Thánh Linh. Sau khi Đức Thánh Linh làm chứng, Đức Thánh Linh đã phải bày tỏ chính Ngài, hầu cho ngươi có thể thấy rõ rằng Ngài là Đức Chúa Trời, rằng có Thần của Đức Chúa Trời bên trong Ngài; chứng ngôn của Đức Chúa Trời không sai, và điều này đã có thể chứng minh rằng chứng ngôn của Ngài là đúng. Nếu công tác của trước và sau khi có chứng ngôn của Đức Thánh Linh là như nhau, thì chức vụ nhập thể của Ngài và công tác của Đức Thánh Linh sẽ không được nhấn mạnh, và do đó con người sẽ không có khả năng nhận ra công tác của Đức Thánh Linh, vì không có sự khác biệt rõ ràng. Sau khi làm chứng, Đức Thánh Linh đã phải duy trì chứng ngôn này, và vì thế Ngài đã phải chứng tỏ sự khôn ngoan và thẩm quyền của mình nơi Jêsus, điều này khác với quá khứ. Tất nhiên, đây không phải là hiệu quả của phép báp-têm; phép báp-têm chỉ đơn thuần là một nghi lễ, chỉ là phép báp-têm là cách để cho thấy rằng đã đến lúc để thực hiện chức vụ của Ngài. Công tác đó là để làm rõ quyền năng vĩ đại của Đức Chúa Trời, để làm rõ chứng ngôn của Đức Thánh Linh, và Đức Thánh Linh sẽ chịu trách nhiệm về chứng ngôn này cho đến cuối cùng. Trước khi thực hiện chức vụ của mình, Jêsus cũng đã lắng nghe các bài giảng, thuyết giảng và truyền bá Phúc Âm ở nhiều nơi khác nhau. Ngài đã không làm bất kỳ công tác vĩ đại nào vì vẫn chưa đến lúc để Ngài thực hiện chức vụ của mình, và cũng vì chính Đức Chúa Trời đã khiêm nhường ẩn mình trong xác thịt, và đã không làm bất kỳ công tác nào cho đến khi đến lúc. Ngài đã không làm công tác trước khi chịu phép báp-têm vì hai lý do: Một, vì Đức Thánh Linh đã chưa chính thức ngự xuống trên Ngài để hành động (nghĩa là, Đức Thánh Linh đã không ban cho Jêsus quyền năng và thẩm quyền để làm công tác như thế), và ngay cả khi Ngài đã biết được danh tính của chính mình, Jêsus sẽ không có khả năng thực hiện công tác mà Ngài đã dự định làm sau này, và sẽ phải đợi đến ngày chịu phép báp-têm. Đây là thời điểm của Đức Chúa Trời, và không ai có khả năng làm trái điều đó, ngay cả bản thân Jêsus; bản thân Jêsus cũng đã không thể làm gián đoạn công tác của chính Ngài. Tất nhiên, đây là sự khiêm nhường của Đức Chúa Trời, và cũng là quy luật trong công tác của Đức Chúa Trời; nếu Thần của Đức Chúa Trời không hành động thì không ai có thể làm công tác của Ngài. Thứ hai, trước khi Ngài chịu phép báp-têm, Ngài chỉ là một người rất thông thường và bình thường, và không khác gì những người thông thường và bình thường khác; đây là một khía cạnh của việc Đức Chúa Trời nhập thể không phải là siêu nhiên. Đức Chúa Trời nhập thể đã không mâu thuẫn với những sự sắp đặt của Thần của Đức Chúa Trời; Ngài đã làm việc một cách có trật tự và rất bình thường. Chỉ sau khi chịu phép báp-têm thì công tác của Ngài mới có thẩm quyền và quyền năng. Điều đó có nghĩa là, mặc dù Ngài là Đức Chúa Trời nhập thể, nhưng Ngài đã không thực hiện bất kỳ hành động siêu nhiên nào, và đã trưởng thành giống như những người bình thường khác. Nếu Jêsus đã biết danh tính của chính Ngài, đã làm công tác vĩ đại trên khắp vùng đất trước khi Ngài chịu phép báp-têm, và đã khác với người bình thường, thể hiện bản thân Ngài là phi thường, thì chẳng những Giăng sẽ không thể làm công tác của mình, mà cũng sẽ không có cách nào để Đức Chúa Trời bắt đầu bước tiếp theo trong công tác của Ngài. Và vì vậy, điều này sẽ chứng minh rằng những gì Đức Chúa Trời đã làm đều sai lầm, và với con người, sẽ có vẻ như Thần của Đức Chúa Trời và xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời không xuất phát từ cùng một nguồn gốc. Vì vậy, công tác của Jêsus được ghi lại trong Kinh Thánh là công tác đã được thực hiện sau khi Ngài chịu phép báp-têm, công tác đã được thực hiện trong suốt ba năm. Kinh Thánh không ghi lại những gì Ngài đã làm trước khi Ngài chịu phép báp-têm vì Ngài đã không làm công tác này trước khi Ngài chịu phép báp-têm. Ngài đã chỉ đơn thuần là một người bình thường, và đại diện cho một người bình thường; trước khi Jêsus bắt đầu thực hiện chức vụ của mình, Ngài đã không khác gì những người bình thường, và những người khác không thể nhận thấy sự khác biệt nào ở Ngài. Chỉ sau khi Ngài được 29 tuổi thì Jêsus mới biết Ngài đã đến để hoàn thành một giai đoạn công tác của Đức Chúa Trời; trước đó, bản thân Ngài đã không biết, vì công tác mà Đức Chúa Trời thực hiện không phải là siêu nhiên. Khi Ngài tham dự một buổi nhóm trong nhà hội ở tuổi mười hai, Ma-ri đang tìm Ngài, và Ngài đã chỉ nói một câu, theo cách tương tự như bất kỳ đứa trẻ nào khác: “Mẹ! Mẹ có biết rằng Tôi phải đặt ý muốn của Cha Tôi lên trên mọi thứ khác không?” Tất nhiên, vì Ngài đã được thai dựng bởi Đức Thánh Linh, chẳng lẽ Jêsus không thể đặc biệt theo một cách nào đó sao? Nhưng sự đặc biệt của Ngài không có nghĩa Ngài là siêu nhiên, mà chỉ đơn thuần là Ngài yêu mến Đức Chúa Trời hơn bất kỳ đứa trẻ nào khác. Mặc dù bề ngoài Ngài là con người, nhưng bản chất của Ngài vẫn đặc biệt và khác biệt so với những người khác. Nhưng, chỉ sau khi chịu phép báp-têm thì Ngài mới thực sự cảm nhận được Đức Thánh Linh đang hành động trong Ngài, cảm nhận rằng Ngài chính là Đức Chúa Trời. Chỉ đến khi Ngài đã bước sang tuổi 33 thì Ngài mới thực sự nhận ra rằng Đức Thánh Linh đã dự định thực hiện công tác đóng đinh thông qua Ngài. Ở tuổi 32, Ngài đã biết được một số lẽ thật bên trong, như được viết trong Phúc Âm của Ma-thi-ơ: “Si-môn Phi-e-rơ thưa rằng: Chúa là Đấng Christ, con Đức Chúa Trời hằng sống. … Từ đó, Đức Chúa Jêsus mới tỏ cho môn đồ biết rằng mình phải đi đến thành Giê-ru-sa-lem, phải chịu tại đó nhiều sự khốn khổ bởi những người trưởng lão, thầy tế lễ cả, cùng thầy thông giáo, và phải bị giết, đến ngày thứ ba phải sống lại.” Ngài đã không biết trước mình phải làm công tác gì, cho đến một thời điểm cụ thể. Ngài đã không biết đầy đủ ngay khi Ngài được sinh ra; Đức Thánh Linh đã dần dần hành động trong Ngài, và đã có một quá trình để hành động. Nếu ngay từ đầu, Ngài đã biết rằng mình là Đức Chúa Trời, là Đấng Christ, và là Con người nhập thể, rằng Ngài phải hoàn thành công tác chịu đóng đinh, thì tại sao Ngài đã không làm việc trước đó? Tại sao chỉ sau khi phán với các môn đồ về chức vụ của Ngài thì Jêsus mới cảm thấy đau khổ và cầu nguyện thống thiết về điều này? Tại sao Giăng đã mở đường cho Ngài và làm phép báp-têm cho Ngài trước khi Ngài hiểu được nhiều điều mà trước đó Ngài chưa hiểu? Điều này chứng tỏ rằng đó là công tác của Đức Chúa Trời nhập thể trong xác thịt, và vì vậy đã có một quá trình để Ngài hiểu và đạt được, vì Ngài là xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời, công tác của Ngài khác với công tác được thực hiện trực tiếp bởi Thần.
Mỗi bước trong công tác của Đức Chúa Trời đều theo cùng một dòng chảy, và vì vậy trong kế hoạch quản lý sáu nghìn năm của Đức Chúa Trời, mỗi bước đều đã được theo sát bởi bước kế tiếp, từ buổi sáng thế cho đến ngày nay. Nếu đã không có ai dọn đường, thì sẽ không có ai đến sau đó; vì có những người đến sau, nên có những người dọn đường. Theo cách này, công tác đã được truyền lại, từng bước một. Bước này nối tiếp bước kia, và nếu không có ai mở đường thì sẽ không thể bắt đầu công tác, và Đức Chúa Trời sẽ không có cách nào để đưa công tác của Ngài tiến lên. Không có bước nào mâu thuẫn với bước nào, và từng bước nối tiếp nhau theo chuỗi để tạo thành một dòng chảy; tất cả điều này được thực hiện bởi cùng một Thần. Nhưng bất kể cho dù ai đó mở đường hay tiếp tục công tác của người khác, điều này không quyết định danh tính của họ. Điều này không đúng sao? Giăng đã mở đường, và Jêsus đã tiếp tục công tác của người, vậy điều này có chứng minh rằng danh tính của Jêsus thấp hơn của Giăng không? Đức Giê-hô-va đã thực hiện công tác của Ngài trước Jêsus, vậy ngươi có thể nói rằng Đức Giê-hô-va vĩ đại hơn Jêsus không? Cho dù họ đã dọn đường hay tiếp tục công tác của những người khác thì đều không quan trọng; điều quan trọng nhất là bản chất công tác của họ và danh tính mà nó đại diện. Điều này không đúng sao? Vì Đức Chúa Trời đã dự định làm việc giữa con người nên Ngài đã phải dấy lên những người có thể làm công tác dọn đường. Khi Giăng mới bắt đầu rao giảng, người đã nói: “Hãy dọn đường Chúa, ban bằng các nẻo Ngài”. “Các ngươi phải ăn năn, vì nước thiên đàng đã đến gần!” Người đã nói như vậy ngay từ đầu, và tại sao người có thể nói những lời này? Xét về trật tự mà những lời này được nói ra, chính Giăng là người đầu tiên nói về Phúc Âm của vương quốc thiên đàng, và Jêsus là người đã phán sau đó. Theo các quan niệm của con người, chính Giăng là người đã mở ra con đường mới, và dĩ nhiên Giăng vĩ đại hơn Jêsus. Nhưng Giăng đã không nói mình là Đấng Christ, và Đức Chúa Trời đã không làm chứng cho người là Con yêu dấu của Đức Chúa Trời, mà chỉ đơn thuần dùng người để mở đường và chuẩn bị sẵn con đường cho Chúa. Người đã dọn đường cho Jêsus, nhưng đã không thể làm việc thay mặt Jêsus. Mọi công tác của con người cũng đã được Đức Thánh Linh duy trì.
Trong thời đại Cựu Ước, chính Đức Giê-hô-va đã dẫn đường, và công tác của Đức Giê-hô-va đã đại diện cho toàn bộ thời đại Cựu Ước, cùng mọi công tác đã được thực hiện ở Y-sơ-ra-ên. Môi-se chỉ đơn thuần duy trì công tác này trên đất, và những công sức của người được xem là sự hợp tác do con người cung cấp. Vào lúc đó, chính Đức Giê-hô-va là Đấng đã phán, Ngài đã kêu gọi Môi-se, dấy người lên giữa dân Y-sơ-ra-ên, và bắt Môi-se dẫn họ vào đồng vắng đến Ca-na-an. Đây không phải là công tác của bản thân Môi-se, mà là công tác do đích thân Đức Giê-hô-va chỉ đạo, và vì thế Môi-se không thể được gọi là Đức Chúa Trời. Môi-se cũng đã đặt ra luật pháp, nhưng luật pháp này đã được đích thân Đức Giê-hô-va ban hành. Chỉ là Ngài đã để Môi-se bày tỏ điều đó. Jêsus cũng đã đưa ra các điều răn, bãi bỏ luật pháp của Cựu Ước và đặt ra các điều răn cho thời đại mới. Tại sao Jêsus lại chính là Đức Chúa Trời? Bởi vì những điều này không giống nhau. Vào thời điểm đó, công tác do Môi-se thực hiện đã không đại diện cho thời đại, cũng không mở ra một con đường mới; người đã được Đức Giê-hô-va hướng dẫn tiến về phía trước, và chỉ đơn thuần là một người đã được Đức Chúa Trời sử dụng. Khi Jêsus đến, Giăng đã thực hiện một bước công tác dọn đường, và đã bắt đầu truyền bá Phúc Âm của vương quốc thiên đàng (Đức Thánh Linh đã bắt đầu việc này). Khi Jêsus đến, Ngài đã trực tiếp làm công tác của chính Ngài, nhưng có một sự khác biệt lớn giữa công tác của Ngài và công tác của Môi-se. Ê-sai cũng đã nói nhiều lời tiên tri, nhưng tại sao người không phải chính là Đức Chúa Trời? Jêsus đã không phán quá nhiều lời tiên tri, nhưng tại sao Ngài lại chính là Đức Chúa Trời? Không ai dám nói rằng mọi công tác của Jêsus lúc bấy giờ đều đến từ Đức Thánh Linh, họ cũng không dám nói tất cả đều xuất phát từ ý muốn của con người, hoặc nó hoàn toàn là công tác của chính Đức Chúa Trời. Con người không có cách nào để phân tích những điều như vậy. Có thể nói rằng Ê-sai đã làm công tác như thế, đã nói những lời tiên tri như thế, và tất cả chúng đều đã đến từ Đức Thánh Linh; chúng đã không đến trực tiếp từ chính Ê-sai, mà là những sự mặc khải từ Đức Giê-hô-va. Jêsus đã không làm nhiều việc, và đã không phán nhiều lời, Ngài cũng đã không phán nhiều lời tiên tri. Đối với con người, sự rao giảng của Ngài dường như không được đặc biệt tán dương, nhưng Ngài chính là Đức Chúa Trời, và con người không thể giải thích được điều này. Không ai đã từng tin vào Giăng, hoặc Ê-sai, hoặc Đa-vít, cũng chưa từng có ai đã gọi họ là Đức Chúa Trời, hoặc Đa-vít là Đức Chúa Trời, hoặc Giăng là Đức Chúa Trời; không ai đã từng nói như vậy, và chỉ có Jêsus mới từng được gọi là Đấng Christ. Sự phân loại này được thực hiện theo chứng ngôn của Đức Chúa Trời, công tác mà Ngài đã đảm nhận, và chức vụ mà Ngài đã thực hiện. Xét về những con người vĩ đại trong Kinh Thánh - Áp-ra-ham, Đa-vít, Giô-suê, Đa-ni-ên, Ê-sai, Giăng và Jêsus - thông qua công tác họ đã làm, ngươi có thể khẳng định ai mới chính là Đức Chúa Trời, và loại người nào là các tiên tri, và loại nào là các sứ đồ. Ai đã được Đức Chúa Trời sử dụng, và ai chính là Đức Chúa Trời, được phân biệt và quyết định bởi bản chất và loại công tác họ đã làm. Nếu ngươi không thể chỉ ra sự khác biệt, thì điều này chứng tỏ rằng ngươi không biết ý nghĩa của việc tin vào Đức Chúa Trời. Jêsus là Đức Chúa Trời vì Ngài đã phán rất nhiều lời, và đã làm rất nhiều việc, đặc biệt là biểu hiện của nhiều phép lạ của Ngài. Tương tự, Giăng cũng đã làm nhiều việc và nói nhiều lời, Môi-se cũng vậy; tại sao họ đã không được gọi là Đức Chúa Trời? A-đam đã được tạo dựng trực tiếp bởi Đức Chúa Trời; tại sao người đã không được gọi là Đức Chúa Trời, mà thay vào đó chỉ được gọi là một loài thọ tạo? Nếu ai đó nói với ngươi rằng: “Ngày nay, Đức Chúa Trời đã làm rất nhiều việc, và đã phán rất nhiều lời; Ngài chính là Đức Chúa Trời. Vậy thì, vì Môi-se đã nói quá nhiều lời, người cũng phải là chính Đức Chúa Trời!” thì ngươi nên hỏi lại họ: “Vào thời điểm đó, tại sao Đức Chúa Trời lại làm chứng cho Jêsus, mà không phải cho Giăng, là chính Đức Chúa Trời? Chẳng phải Giăng đã đến trước Jêsus sao? Điều nào vĩ đại hơn, công tác của Giăng hay Jêsus? Đối với con người, công tác của Giăng dường như vĩ đại hơn của Jêsus, nhưng tại sao Đức Thánh Linh lại làm chứng cho Jêsus, mà không phải cho Giăng?” Điều tương tự cũng đang diễn ra ngày nay! Lúc đầu, khi Môi-se lãnh đạo dân Y-sơ-ra-ên, Đức Giê-hô-va đã phán với người từ giữa những đám mây. Môi-se đã không nói trực tiếp, mà thay vào đó đã được hướng dẫn trực tiếp bởi Đức Giê-hô-va. Đây là công tác của Y-sơ-ra-ên trong Cựu Ước. Bên trong Môi-se không có Thần, hoặc hữu thể của Đức Chúa Trời. Người đã không thể làm công tác đó, và vì vậy có một sự khác biệt lớn giữa công tác mà người và Jêsus đã làm. Và đó là vì công tác họ đã làm là khác nhau! Việc một ai đó được Đức Chúa Trời sử dụng, hoặc là một tiên tri, một sứ đồ, hoặc chính là Đức Chúa Trời, đều có thể được phân biệt qua bản chất công tác của người đó, và điều này sẽ chấm dứt những nghi ngờ của ngươi. Trong Kinh Thánh có viết rằng chỉ Chiên Con mới có thể mở bảy ấn. Trong suốt các thời đại, đã có nhiều nhà chú giải Kinh Thánh trong số những nhân vật vĩ đại đó, và vì vậy ngươi có thể nói rằng tất cả họ đều là Chiên Con sao? Ngươi có thể nói rằng tất cả những lời giải thích của họ đều đến từ Đức Chúa Trời sao? Họ chỉ đơn thuần là những nhà chú giải; họ không có danh tính của Chiên Con. Làm sao họ có thể xứng đáng để mở bảy ấn được? Đúng là “Chỉ Chiên Con mới có thể mở bảy ấn”, nhưng Ngài không chỉ đến để mở bảy ấn; công tác này là không cần thiết, nó được thực hiện một cách tình cờ. Ngài hoàn toàn biết rõ về công tác của chính mình; Ngài có cần phải tốn nhiều thời gian để giải nghĩa Kinh Thánh không? Liệu “thời đại của Chiên Con giải nghĩa Kinh Thánh” có phải được thêm vào sáu nghìn năm công tác không? Ngài đến để làm công tác mới, nhưng Ngài cũng cung cấp một số sự mặc khải về công tác của quá khứ, khiến mọi người hiểu được lẽ thật của sáu nghìn năm công tác. Không cần phải giải thích quá nhiều phân đoạn từ Kinh Thánh; chính công tác của ngày nay mới là then chốt, đó là điều quan trọng. Ngươi nên biết rằng Đức Chúa Trời không đến để đặc biệt phá vỡ bảy ấn, mà để làm công tác cứu rỗi.

11.16.2019

Ngươi biết gì về đức tin?

Trong con người chỉ tồn tại lời lẽ bất định về đức tin, nhưng con người không biết điều gì cấu thành đức tin, càng không biết tại sao mình có đức tin. Con người hiểu quá ít, và bản thân con người quá thiếu sót; đức tin của họ ở Ta chỉ là đần độn và ngu dốt. Mặc dù con người không biết đức tin là gì, cũng không biết tại sao mình có đức tin ở Ta, con người vẫn tiếp tục tin vào Ta một cách ám ảnh. Điều ta yêu cầu ở con người không đơn thuần là để họ kêu cầu Ta một cách ám ảnh như thế này hay tin vào Ta theo lối rời rạc, bởi vì công tác Ta làm là hầu cho con người có thể thấy Ta, và biết Ta, không phải để con người bị ấn tượng và nhìn Ta theo cách khác.Ta đã từng tỏ hiện nhiều chỉ dấu và các điều kỳ diệu, đã làm nhiều phép lạ, và dân Y-sơ-ra-ên của thời đó đã thể hiện sự ngưỡng mộ to lớn với Ta và cực kỳ sùng kính khả năng chữa lành người bệnh và xua đuổi ma quỷ khác thường của Ta. Vào thời ấy, dân Do Thái nghĩ quyền năng chữa lành của Ta là tài giỏi, phi thường - và bởi nhiều việc làm của Ta, hết thảy họ đều tôn kính Ta, và cảm thấy hết sức ngưỡng mộ hết thảy mọi quyền năng của Ta. Do vậy, tất cả những ai đã thấy Ta làm phép lạ đều theo sát Ta, đến độ hàng ngàn người vây quanh Ta để xem Ta chữa lành người bệnh. Ta đã tỏ hiện rất nhiều chỉ dấu và điều kỳ diệu, ấy thế mà con người xem Ta đơn thuần như một người thầy thuốc tài giỏi; vì thế, Ta cũng đã phán nhiều lời giáo huấn cho con người vào thời ấy, nhưng họ đơn thuần coi Ta là một người thầy giỏi hơn các môn đồ của mình. Thậm chí ngày nay, sau khi con người đã nhìn thấy các ghi chép lịch sử về công tác của Ta, họ vẫn tiếp tục diễn dịch rằng Ta là một người thầy thuốc vĩ đại đã chữa lành người bệnh và là một người thầy của kẻ ngu dốt, và họ đã định nghĩa Ta là Đức Chúa Jêsus Christ giàu lòng thương xót. Những người diễn giải kinh thánh có thể đã vượt hơn các kỹ năng chữa lành của Ta, hoặc thậm chí có thể là những môn đồ mà giờ đây đã vượt hơn người thầy của mình, dẫu vậy những người danh tiếng lẫy lừng ấy, những người được khắp thế giới biết tên, coi Ta quá hèn mọn như một thầy thuốc đơn thuần. Những việc làm của Ta nhiều hơn lượng cát dưới biển, và trí tuệ của ta vượt hơn hết thảy các con trai của Sa-lô-môn, vậy mà con người đơn thuần nghĩ về Ta như một thầy thuốc chẳng đáng quan tâm và một người thầy vô danh của con người. Bao nhiêu người tin vào Ta chỉ để Ta có thể chữa lành cho họ? Bao nhiêu người tin vào Ta chỉ để Ta có thể dùng quyền năng của Ta mà đuổi những linh hồn ô uế ra khỏi thân xác họ? Và bao nhiêu người tin vào Ta đơn thuần để nhận sự bình an và hoan hỉ từ Ta? Bao nhiêu người tin vào Ta chỉ để đòi hỏi nhiều của cải vật chất hơn từ Ta? Bao nhiêu người tin Ta chỉ để được trải qua cuộc đời này trong sự bình an và để được an toàn khỏe mạnh trong thế giới sắp đến? Bao nhiêu người tin vào Ta để tránh sự đau đớn của địa ngục và để nhận lãnh những phúc lành của thiên đàng? Bao nhiêu người tin vào Ta chỉ để an ủi tạm thời chứ không tìm kiếm để có được bất cứ điều gì ở thế giới sắp đến? Khi ta trút cơn giận dữ xuống con người và tước đi mọi sự hoan hỉ, bình an mà họ từng sở hữu, con người đã trở nên hoài nghi. Khi Ta cho con người sự đau đớn của địa ngục và lấy lại những phúc lành của thiên đàng, mối nhục của con người biến thành sự giận dữ. Khi con người nhờ Ta chữa lành cho họ, Ta đã chẳng đoái hoài và cảm thấy ghê tởm họ; con người đã rời khỏi Ta mà theo đuổi cách của các phép ma và tà thuật để thay vào đó. Khi Ta lấy đi tất cả những gì con người đã đòi hỏi từ Ta, mọi người đều biến mất không chút dấu vết. Do vậy, Ta nói rằng con người có đức tin ở Ta bởi vì Ta đã ban quá nhiều ân điển, và có quá nhiều thứ để thu được. Dân Do Thái đã tin Ta vì ân điển của Ta và theo Ta bất kể nơi nào Ta đi. Những kẻ ngu dốt với kiến thức và kinh nghiệm hạn hẹp này chỉ tìm kiếm để được thấy những dấu chỉ và những điều kỳ diệu mà Ta đã tỏ ra. Họ coi Ta là gia trưởng của dân Do Thái, người có thể thực hiện những phép lạ vĩ đại nhất. Và do vậy khi Ta xua đuổi ma quỷ khỏi con người, điều đó đã gây ra nhiều sự bàn luận giữa họ: Họ nói rằng Ta là Ê-li, rằng Ta là Môi-se, rằng Ta là tổ phụ của hết thảy mọi tiên tri, rằng Ta là người vĩ đại nhất của hết thảy mọi thầy thuốc. Ngoài việc chính Ta nói rằng Ta là sự sống, là đường đi, và là lẽ thật, không ai có thể biết hữu thể của Ta hay danh tính Ta. Ngoài việc chính Ta nói rằng thiên đàng là nơi Cha Ta sống, không ai biết rằng Ta là Con Đức Chúa Trời, và cũng là chính Đức Chúa Trời. Ngoài việc chính Ta nói rằng Ta sẽ mang sự cứu chuộc đến hết thảy nhân loại và chuộc tội nhân loại, không ai biết rằng Ta là Đấng Cứu Chuộc của nhân loại, và con người chỉ biết Ta như một người nhân từ và giàu lòng thương xót. Và ngoài việc chính Ta có thể giải thích hết thảy mọi thứ Ta có, không ai biết Ta, và không ai tin rằng Ta là Con Đức Chúa Trời hằng sống. Đó là đức tin của con người ở Ta, và là cách họ cố lừa phỉnh Ta. Làm sao họ có thể làm chứng cho Ta khi họ có những cái nhìn về Ta như thế?

11.15.2019

Chương 13

Khi Ta cất tiếng nói, ẩn chứa trong lời của Ta là bao nhiêu tâm tư, nhưng con người không hề biết, cũng chẳng hề hiểu, bề ngoài vẫn cứ tiếp thu lời của Ta, bề ngoài học theo lời của Ta, mà không hiểu được tấm lòng của Ta, không nhận ra được ý muốn của Ta. Cho dù lời Ta nói sáng rõ, nhưng liệu có người nào hiểu không? Khi Ta từ Zion đến với nhân gian, bởi vì Ta khoác lên nhân tính bình thường, phủ lên mình thịt da của con người, bởi vậy con người chỉ biết diện mạo bên ngoài của Ta, mà không hề nhận ra sự sống bên trong Ta, chỉ biết con người bên trong xác thịt, mà không hề nhận ra Đức Chúa Trời Thánh Linh. Lẽ nào chính Chúa thực sự lại không đáng để các ngươi nhận thức hay sao? Lẽ nào chính Chúa thực sự lại không đáng để các ngươi nỗ lực “nghiên cứu” hay sao? Ta căm ghét sự bại hoại của loài người, nhưng Ta lại cảm thông cho sự yếu đuối của loài người. Ta cũng phải đối phó với bản tính vốn có của cả loài người. Là dân sự của Ta tại Trung Quốc, các ngươi chẳng phải cũng là một bộ phận của loài người đó sao? Trong tất cả dân sự của Ta, lại tính thêm các con Ta, tức là, trong số những người được Ta lựa chọn trong toàn loài người, các ngươi thuộc về nhóm kém nhất. Bởi thế cho nên Ta đã dành nhiều tâm sức và nỗ lực nhất cho các ngươi, lẽ nào các ngươi còn không trân trọng cuộc sống hạnh phúc của ngày hôm nay sao? Các ngươi vẫn còn nhẫn tâm đi ngược lại ý Ta mà tự sống theo cách riêng của mình? Nếu không phải nhờ tình thương và lòng nhân ái của Ta hãy còn tồn tại, thì tất cả con người đã sớm bị Sa-tan bắt đi rồi, đã trở thành “miếng mồi ngon” trong miệng Sa-tan rồi. Ngày hôm nay, trong loài người, số người thực sự dâng hiến vì Ta, thực lòng yêu Ta được mấy người, lẽ nào “dân sự của Đức Chúa Trời” ngày hôm nay đã trở thành thứ tài sản thuộc sở hữu riêng của các ngươi rồi sao? “Lương tâm” của các ngươi đã “nguội lạnh” như vậy sao? Kẻ nào thực lòng quan tâm đến ý muốn của Ta? Các ngươi có thực sự xứng đáng là “dân sự” mà Ta cần không? Nghĩ về quá khứ rồi nhìn lại hôm nay, có ai đã từng làm Ta hài lòng không? Nếu như Ta không nhắc nhở thì các ngươi như thể hãy còn trong trạng thái “đóng băng”, như thể hãy còn “ngủ đông”, vẫn còn chưa thức tỉnh.

11.14.2019

Những điều răn của thời đại mới

Các ngươi đã được bảo rằng phải trang bị cho mình những lời của Chúa, rằng bất kể những gì được sắp xếp cho các ngươi, tất cả đều được sắp đặt bởi chính bàn tay của Chúa, và không cần lời cầu nguyện hay thỉnh cầu tha thiết của các ngươi – chúng thảy đều vô dụng. Tuy nhiên, xét về hoàn cảnh hiện tại, các vấn đề thực tế mà các ngươi đang phải đối mặt là quá sức tưởng tượng đối với các ngươi. Nếu các ngươi chỉ chờ đợi sự sắp đặt của Chúa, sự tiến bộ của các ngươi sẽ quá chậm, và đối với những người không biết cách trải nghiệm thì sẽ có nhiều thụ động. Do đó, nếu ngươi không thể hoàn toàn nhìn thấu những điều này thì ngươi sẽ bị rối loạn và ngớ ngẩn trong việc trải nghiệm của mình. Nếu các ngươi không có thực tế mà chỉ có lời nói thì đây chẳng phải là dấu hiệu của sự sai lầm hay sao? Nhiều sai lầm có thể nhìn thấy trong các ngươi, trong nhóm này. Ngày nay, các ngươi không có khả năng chiến thắng những thử thách như “những kẻ phục dịch”, nếu không thì không có khả năng tưởng tượng hoặc hoàn thành sự tinh luyện khác liên quan đến những lời của Chúa, nhưng các ngươi phải tuân thủ nhiều điều các ngươi được yêu cầu đưa vào thực hành. Có nghĩa là, mọi người phải tuân thủ nhiều bổn phận mà họ nên thực hiện. Đây là những gì mọi người nên tuân theo, và những gì họ phải thực hiện. Hãy để Đức Thánh Linh làm những gì phải được làm bởi Đức Thánh Linh; con người không thể đóng vai trò gì trong đó. Con người nên tuân thủ những gì phải được thực hiện bởi con người, là những điều vốn không liên quan đến Đức Thánh Linh. Không có gì ngoài những điều đáng lẽ phải được thực hiện bởi con người, và nên được tuân thủ như điều răn, giống như sự tuân thủ luật pháp của Cựu Ước. Mặc dù bây giờ không phải là Thời đại Luật pháp, nhưng vẫn còn nhiều lời thuộc về Thời đại Luật pháp cần được tuân theo, và chúng không được thực hiện chỉ bằng cách dựa vào việc được Đức Thánh Linh cảm động, mà là những gì nên được tuân thủ bởi con người. Ví dụ: Các ngươi chớ phán xét về công việc của Đức Chúa Trời thực tế. Các ngươi chớ phản đối người được Chúa làm chứng. Trước mặt Chúa, các ngươi hãy giữ vị trí của mình và chớ bê tha. Các ngươi nên ôn hòa trong cách nói năng, và lời nói và hành động của các ngươi phải theo sự sắp đặt của người được Chúa làm chứng. Các ngươi nên tôn kính lời chứng của Chúa. Các ngươi chớ phớt lờ công việc của Chúa và những lời từ miệng của Ngài. Các ngươi chớ bắt chước giọng điệu và mục đích của những lời phán của Chúa. Ở bên ngoài, các ngươi chớ làm bất cứ điều gì hiển nhiên chống lại người được Chúa làm chứng. Và vân vân. Đây là những gì mỗi người nên tuân thủ. Trong mỗi thời đại, Chúa quy định nhiều quy tắc giống với luật pháp và phải được con người tuân thủ. Thông qua điều này, Ngài chế ngự tâm tính của con người, và thấy rõ lòng chân thành của họ. Chẳng hạn như lấy những lời “Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi” của thời đại Cựu Ước. Những lời này không áp dụng ngày hôm nay; vào thời điểm đó, chúng chỉ đơn thuần kìm hãm một số tâm tính bên ngoài của con người, chúng đã được sử dụng để chứng minh sự chân thành của niềm tin của con người vào Chúa, và là một dấu ấn của những người tin vào Chúa. Mặc dù bây giờ là Thời đại Vương quốc, nhưng vẫn còn nhiều quy tắc mà con người phải tuân thủ. Các quy tắc của quá khứ không được áp dụng; ngày nay, có rất nhiều sự thực hành phù hợp hơn để con người thực hiện, và chúng là cần thiết. Chúng không bao gồm công việc của Đức Thánh Linh và phải được thực hiện bởi con người.

Tình yêu đích thực dành cho Đức Chúa Trời mang tính tự phát

Mọi người đều phải chịu sự tinh luyện bởi lời Chúa. Nếu Đức Chúa Trời đã không nhập thể, nhân loại hiển nhiên sẽ không có phước lành cho sự đau khổ thông qua sự tinh luyện này. Nói cách khác, tất cả những ai có thể chấp nhận những sự thử thách của lời Chúa đều có phước. Dựa trên phẩm chất vốn có của con người, hành vi của họ, và thái độ của họ đối với Đức Chúa Trời, họ không đáng nhận được dạng tinh luyện này. Chính bởi họ đã được cất lên bởi Đức Chúa Trời mà họ được hưởng phúc lành này. Người ta thường nói rằng họ không đáng được nhìn thấy mặt Đức Chúa Trời hay nghe lời Ngài. Ngày nay, hoàn toàn là bởi sự cao trọng của Đức Chúa Trời và lòng thương xót của Ngài mà con người đã được nhận sự tinh luyện của lời Ngài. Đây là phúc lành của mỗi một người đang sống trong những ngày sau rốt - cá nhân các ngươi đã trải nghiệm điều này chưa? Con người nên trải nghiệm sự đau khổ và thất bại mà Đức chúa Trời định trước ở những phương diện nào - không phải dựa trên những yêu cầu riêng của con người. Đây là lẽ thật không thể giải thích. Mọi tín hữu nên có khả năng chấp nhận những sự thử thách của lời Chúa và chịu khổ trong lời Ngài. Điều này rõ ràng với các ngươi chứ? Như vậy, để đổi lại cho sự đau khổ mà ngươi đã trải qua, ngươi đã nhận được những phúc lành của hôm nay; nếu ngươi không chịu khổ vì Đức Chúa Trời, ngươi không thể có được sự ngợi khen của Ngài. Có lẽ trong quá khứ ngươi đã than oán, nhưng dù ngươi đã than oán bao nhiêu, Đức Chúa Trời cũng không nhớ điều ấy của ngươi. Ngày hôm nay đã đến, và không cần nhìn lại những sự vụ của hôm qua.