Công tác của những ngày sau rốt là tách biệt mọi người tùy theo loại của họ, và khép lại kế hoạch quản lý của Đức Chúa Trời, vì thời gian đã gần kề và ngày của Đức Chúa Trời đã đến. Đức Chúa Trời đưa tất cả những ai bước vào vương quốc của Ngài - tất cả những ai trung thành với Ngài cho đến cuối cùng - vào thời đại của chính Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, trước khi thời đại của chính Đức Chúa Trời đến, công tác của Đức Chúa Trời không phải là quan sát những việc làm của con người, hoặc tìm hiểu về đời sống của con người, mà là phán xét sự bất tuân của con người, vì Đức Chúa Trời sẽ thanh tẩy tất cả những người đến trước ngôi Ngài. Tất cả những ai đã theo bước chân của Đức Chúa Trời cho đến ngày nay đều là những người đến trước ngôi của Chúa, và như vậy, mỗi một người chấp nhận công tác của Đức Chúa Trời trong giai đoạn cuối cùng của nó là đối tượng cho sự thanh tẩy của Đức Chúa Trời. Nói cách khác, tất cả những ai chấp nhận công tác của Đức Chúa Trời trong giai đoạn cuối cùng của nó đều là đối tượng cho sự phán xét của Đức Chúa Trời.
Chúa Giê-su nói: "Vì như chớp phát ra từ phương đông, nháng đến phương tây, thì sự Con người đến sẽ cũng thể ấy." (Ma-thi-ơ 24:27). Tia Chớp Phương Đông là sự trở lại của Chúa Giê-su, đó chính là Đấng Christ của thời sau rốt- Đức Chúa Trời Toàn Năng.
1.29.2020
Ngươi có biết không? Đức Chúa Trời đã làm một việc vĩ đại giữa con người
Hội Thánh Đức Chúa Trời Toàn Năng | Đức Chúa Trời phán:″Ngươi có biết không? Đức Chúa Trời đã làm một việc vĩ đại giữa con người″
Thời đại cũ đã qua, và thời đại mới đã đến. Năm này qua năm khác và ngày này qua ngày khác, Đức Chúa Trời đã làm nhiều công tác. Ngài đã đến thế gian và rồi đã lần lượt rời khỏi. Một chu kỳ như thế đã tiếp tục qua nhiều thế hệ. Ngày nay, Đức Chúa Trời tiếp tục làm công tác mà Ngài phải làm như trước đây, công tác mà Ngài chưa hoàn tất, vì cho đến ngày nay Ngài vẫn chưa bước vào sự nghỉ ngơi. Từ khi sáng thế cho đến ngày nay, Đức Chúa Trời đã làm nhiều công tác, nhưng ngươi có biết rằng công tác Đức Chúa Trời làm ngày nay nhiều hơn trước đây rất nhiều và quy mô lớn hơn rất nhiều? Điều này là lý do tại sao Ta phán rằng Đức Chúa Trời đã làm một việc vĩ đại giữa con người. Tất cả công tác của Đức Chúa Trời đều rất quan trọng, dù với con người hay với Đức Chúa Trời, vì mọi hạng mục trong công tác của Ngài đều liên quan đến con người.
1.25.2020
Bản chất của Đấng Christ là vâng theo ý muốn của Cha trên trời
Hội Thánh Đức Chúa Trời Toàn Năng | Đức Chúa Trời phán:″Bản chất của Đấng Christ là vâng theo ý muốn của Cha trên trời″
Đức Chúa Trời nhập thể được gọi là Đấng Christ, và Đấng Christ là xác thịt được mặc lấy bởi Thần của Đức Chúa Trời. Xác thịt này không giống như bất kỳ con người xác thịt nào. Sự khác biệt này là vì Đấng Christ không thuộc về thịt và huyết mà là sự nhập thể của Thần. Ngài có cả một nhân tính bình thường lẫn một thần tính trọn vẹn. Thần tính của Ngài không được sở hữu bởi bất kỳ con người nào. Nhân tính bình thường của Ngài duy trì mọi hoạt động bình thường của Ngài trong xác thịt, trong khi thần tính của Ngài thực hiện công tác của chính Đức Chúa Trời. Dù là nhân tính hay thần tính của Ngài, cả hai đều quy phục ý muốn của Cha trên trời. Bản chất của Đấng Christ là Thần, nghĩa là thần tính. Do đó, bản chất của Ngài là của chính Đức Chúa Trời; bản chất này sẽ không làm gián đoạn công tác của riêng Ngài, và Ngài không thể làm bất cứ điều gì hủy hoại công tác của chính mình, Ngài cũng sẽ không bao giờ thốt ra bất cứ lời nào trái với ý muốn của Ngài. Do vậy, Đức Chúa Trời nhập thể tuyệt đối sẽ không bao giờ làm bất cứ công tác nào gây gián đoạn sự quản lý của riêng Ngài. Đây là điều mọi người nên hiểu. Bản chất của công tác của Đức Thánh Linh là cứu rỗi con người và vì lợi ích của sự quản lý của riêng Đức Chúa Trời. Tương tự, công tác của Đấng Christ là cứu rỗi con người và vì lợi ích của ý muốn của Đức Chúa Trời. Vì rằng Đức Chúa Trời trở nên xác thịt, Ngài nhận ra bản chất của Ngài bên trong xác thịt của Ngài, để xác thịt của Ngài có khả năng gánh vác công tác của Ngài. Do vậy, mọi công tác của Thần của Đức Chúa Trời được thay bằng công tác của Đấng Christ trong thời gian nhập thể, và trọng tâm của mọi công tác xuyên suốt thời gian nhập thể này là công tác của Đấng Christ. Nó không thể được trộn lẫn với công tác từ bất kỳ thời đại nào. Và bởi Đức Chúa Trời trở nên xác thịt, Ngài hoạt động trong danh tính của xác thịt Ngài; bởi Ngài đến trong xác thịt, nên Ngài hoàn thành công tác mà Ngài phải làm trong xác thịt. Dù là Thần của Đức Chúa Trời hay là Đấng Christ, cả hai đều chính là Đức Chúa Trời, và Ngài làm công tác mà Ngài phải làm và thực hiện chức vụ mà Ngài phải thực hiện.
Sự khác nhau giữa chức vụ của Đức Chúa Trời nhập thể và bổn phận của con người
Các ngươi phải biết khải tượng trongcông tác của Đức Chúa Trời và nắm bắt phương hướng chung của công tác Ngài. Đây là sự bước vào theo một cách tích cực. Một khi ngươi nắm vững chính xác những lẽ thật củakhải tượng, thì sự bước vào của ngươi sẽ được chắc chắc; dù công tác của Ngài có thay đổi như thế nào, thì ngươi sẽ vẫn vững vàng trong lòng mình, rõ ràng về khải tượng, và ngươi sẽ có một mục tiêu cho sự bước vào và sự theo đuổi của ngươi. Theo cách thức đó, tất cả kinh nghiệm và kiến thức trong ngươi sẽ phát triển sâu hơn và trở nên tinh tế hơn. Một khi đã nắm bắt được vấn đề một cách bao quát hơn, ngươi sẽ không phải chịu những tổn thất trong đời sống, và sẽ không bị lạc lối. Nếu ngươi không biết đến các bước công tác này, ngươi sẽ chịu tổn thất trong từng bước. Ngươi không thể thay đổi hoàn toàn chỉ trong một vài ngày, và ngươi sẽ không thể đi đúng hướng thậm chí là trong một vài tuần. Chẳng phải điều này cản trở ngươi sao? Có nhiều điều về sự bước vào theo cách tích cực và những thực hành như thế các ngươi phải nắm vững, và ngươi cũng phải nắm bắt một số điểm về khải tượng trong công tác của Ngài, chẳng hạn như là ý nghĩa của công tác chinh phục của Ngài, con đường để được hoàn thiện trong tương lai, điều gì phải đạt được qua việc trải nghiệm những thử thách và khổ nạn, ý nghĩa của sự phán xét và sự trừng phạt, các nguyên tắc làm việc của Đức Thánh Linh, và các nguyên tắc của sự hoàn thiện và chinh phục. Tất cả những điều này là những lẽ thật của khải tượng. Phần còn lại là ba giai đoạn công tác của Thời đại Luật pháp, Thời đại Ân điển, và Thời đại Vương quốc, cũng như lời chứng tương lai. Đây cũng là những lẽ thật liên quan đến khải tượng, và là những lẽ thật cơ bản nhất, cũng như quan trọng nhất. Hiện tại, có quá nhiều thứ mà các ngươi nên bước vào và thực hành, và bây giờ nó có nhiều cấp độ hơn và chi tiết hơn. Nếu ngươi không có kiến thức về những lẽ thật này, thì đó là bằng chứng rằng ngươi vẫn chưa bước vào. Phần lớn thời gian, kiến thức của con người về lẽ thật là quá nông cạn; con người không thể đưa vào thực hành những lẽ thật cơ bản nhất định và ngay cả những vấn đề nhỏ nhặt cũng không biết cách xử lý. Lý do con người không thể thực hành lẽ thật là vì tâm tính phản nghịch của họ, và vì kiến thức của họ về công tác của hôm nay quá hời hợt và phiến diện. Vì vậy, để con người được trở nên hoàn thiện là một nhiệm vụ không hề dễ dàng. Sự phản nghịch của ngươi quá lớn, và ngươi giữ lại quá nhiều về bản ngã cũ của mình; ngươi không thể đứng về phía lẽ thật, và không thể thực hành ngay cả những lẽ thật hiển nhiên nhất. Những người như thế không thể được cứu và là những người chưa được chinh phục. Nếu sự bước vào của ngươi không có chi tiết cũng như không có các mục tiêu, thì sự tăng trưởng sẽ chậm đến với ngươi. Nếu sự bước vào của ngươi không có chút thực tế nào, thì sự theo đuổi của ngươi sẽ vô ích. Nếu ngươi không hay biếtvề thực chất của lẽ thật, thì ngươi sẽ không thay đổi gì. Sự tăng trưởng trong đời sống con người và những thay đổi trong tâm tính của họ đều đạt được thông qua việc bước vào thực tế, và hơn thế nữa, thông qua việc bước vào những sự trải nghiệm chi tiết. Nếu có nhiều sự trải nghiệm chi tiết trong quá trình bước vào của ngươi, và ngươi có nhiều kiến thức và sự bước vào thực tế, tâm tính của ngươi sẽ nhanh chóng thay đổi. Cho dù hiện tại ngươi không được khai sáng nhiều trong thực hành, ít nhất ngươi cũng phải được khai sáng về khải tượngcủa công tác. Nếu không, ngươi sẽ không thể bước vào, và ngươi sẽ không thể làm được như thế trừ khi ngươi trước hết có được kiến thực về lẽ thật. Chỉ khi Đức Thánh Linh khai sáng ngươi trong sự trải nghiệm thì ngươi mới có được sự hiểu biết sâu sắc hơn về lẽ thật và bước vào sâu hơn. Các ngươi phải biết đến công tác của Đức Chúa Trời.
1.24.2020
Câu Chuyện Thật Đằng Sau Công Việc Của Thời Đại Cứu Chuộc
Hội Thánh Đức Chúa Trời Toàn Năng|Đức Chúa Trời phán:″Câu Chuyện Thật Đằng Sau Công Việc Của Thời Đại Cứu Chuộc″
Toàn bộ kế hoạch quản lý của Ta, một kế hoạch trải dài sáu ngàn năm, gồm có ba giai đoạn, hoặc ba thời đại như sau: mở đầu là Thời Đại Luật Pháp; Thời Đại Ân Điển (cũng gọi là Thời Đại Cứu Chuộc); và cuối cùng là Thời Đại Vương Quốc. Công việc của Ta ở ba thời đại này là khác nhau, tuỳ theo bản chất của mỗi thời đại, nhưng ở mỗi giai đoạn nó sẽ phù hợp với nhu cầu của con người – hay nói chính xác hơn là nó được thực hiện để chống lại những mưu trò mà Sa-tan bày ra trong cuộc chiến mà Ta đang giao đấu. Công việc của Ta là để đánh bại Sa-tan, để chứng tỏ sự khôn ngoan và toàn năng của Ta, để phơi bày hết các mưu chước của Sa-tan và như vậy là để cứu vớt toàn nhân loại đang sống trong lãnh địa của nó. Điều này là để thể hiện sự khôn ngoan và toàn năng của Ta, đồng thời cũng phanh phui được sự ghê tởm quá thể của Sa-tan. Hơn nữa là để dạy cho các vật thọ tạo của Ta phân biệt được điều tốt và cái xấu, biết được rằng Ta là Đấng Thống Trị của vạn vật, thấy rõ được rằng Sa-tan là kẻ thù của nhân loại, là kẻ thấp hèn nhất trong những kẻ thấp hèn, là tà ác, và chỉ ra chắc chắn được sự khác biệt giữa tốt và xấu, giữa lẽ thật và sự sai trái, giữa thánh thiện và rác rưởi, giữa cao quý và ô nhục. Bằng cách này, loài người mê muội sẽ có thể làm chứng cho Ta rằng Ta không phải là kẻ làm sa ngã loài người, và chỉ có Ta – Chúa sáng thế – mới có thể cứu rỗi được loài người, mới có thể ban cho con người những thứ họ hưởng thụ; và họ sẽ biết được rằng Ta là Đấng Thống Trị của vạn vật còn Sa-tan chỉ là một trong những loài Ta tạo ra nhưng rồi đã chống lại Ta. Kế hoạch quản lý sáu ngàn năm của Ta chia làm ba giai đoạn để có thể đạt được kết quả này: con cái Ta trở thành các nhân chứng cho Ta, hiểu được ý muốn của Ta, và biết được Ta là lẽ thật. Như vậy, trong giai đoạn đầu của kế hoạch quản lý sáu ngàn năm của Ta, Ta đã thực hiện công việc pháp luật, tức là công việc mà Đức Giê-hô-va đã dẫn dắt con cái của Ngài. Giai đoạn thứ hai khởi đầu các công việc của Thời Đại Ân Điển tại xứ Giu-đa. Chúa Giê-su đại diện cho mọi công việc của Thời Đại Ân Điển; Ngài giáng sinh trong xác trần và chịu đóng đinh trên thập tự giá, và Ngài cũng mở đầu cho Thời Đại Ân Điển. Ngài chịu đóng đinh để hoàn thành công việc cứu chuộc, để kết thúc Thời Đại Luật Pháp và mở ra Thời Đại Ân Điển, vì thế Ngài được gọi là “Đấng Chỉ Huy Tối Cao”, là “Đấng Chịu Tội”, là “Đấng Cứu Chuộc”. Như vậy, nội dung công việc của Chúa Giê-su khác với Đức Giê-hô-va, mặc dù về nguyên tắc thì vẫn giống nhau. Đức Giê-hô-va bắt đầu Thời Đại Luật Pháp, tạo lập nền tảng, tức là điểm khởi nguồn cho công việc của Ngài ở trần thế, và ban ra các mệnh lệnh; đó là hai thành tựu của Ngài đại diện cho Thời Đại Luật Pháp. Công việc Chúa Giê-su đã làm trong Thời Đại Ân Điển không phải là ban mệnh lệnh mà là thực hiện các mệnh lệnh, do đó mở ra Thời Đại Ân Điển và khép lại Thời Đại Luật Pháp đã tồn tại hai ngàn năm. Ngài là người tiên phong, đến để khai mở Thời Đại Ân Điển, thế mà công việc chính của Ngài lại là cứu chuộc. Và như thế thành tựu của Ngài có hai phần: mở ra một thời đại mới, và hoàn tất công việc cứu chuộc của Ngài trên thập tự giá. Rồi Ngài đã rời đi. Đến đây, Thời Đại Luật Pháp đã khép lại và toàn nhân loại bước vào Thời Đại Ân Điển.
1.23.2020
Chương 16
Đối với con người, Đức Chúa Trời quá vĩ đại, quá chan chứa, quá diệu kỳ, quá khó hiểu thấu; trong mắt họ, những lời của Đức Chúa Trời vượt cao xa, và như một tuyệt tác vĩ đại của thế giới. Thế nhưng bởi vì con người còn quá nhiều thiếu sót, và tâm trí họ quá giản đơn, và hơn thế nữa, bởi khả năng chấp nhận của họ quá kém cỏi, bất kể Đức Chúa Trời phán lời Ngài tỏ tường như thế nào, họ vẫn ngồi yên bất động, như thể đang bị bệnh tâm thần. Khi họ đói, họ không hiểu rằng họ phải ăn, khi họ khát, họ không hiểu rằng họ phải uống; họ cứ liên tục la hét và kêu gào, như thể có sự gian khổ khôn tả từ sâu thẳm linh hồn mình, nhưng họ lại không thể nói về điều đó. Khi Đức Chúa Trời tạo ra nhân loại, ý định của Ngài là để con người sống làm người bình thường và chấp nhận lời Chúa phù hợp với bản năng của mình. Nhưng bởi vì, ngay từ đầu, con người đã không chống nổi sự cám dỗ của Sa-tan, nên ngày nay họ vẫn không thể giải thoát cho chính mình, ấy thế mà họ vẫn không thể nhận ra những mưu đồ giả dối mà Sa-tan đã thực hiện suốt hàng ngàn năm, thêm vào đó họ còn thiếu năng lực để hiểu hoàn toàn lời Chúa - toàn bộ điều này đã dẫn tới tình cảnh hiện tại. Trong hoàn cảnh ngày nay, con người vẫn sống trong nguy cơ bị Sa-tan cám dỗ, và vì vậy vẫn không có khả năng hoàn toàn quý trọng lời Chúa. Trong tâm tính của con người bình thường, không có sự quanh co hay giả dối, con người có mối quan hệ bình thường với nhau, họ không lẻ loi, và cuộc sống của họ không xoàng xĩnh, cũng không suy đồi. Vì vậy, Đức Chúa Trời cũng được tôn cao giữa hết thảy, lời Ngài tràn ngập trong nhân loại, con người sống trong hòa bình với nhau và dưới sự chăm sóc, bảo vệ của Đức Chúa Trời, thế gian đầy thuận hòa, không có sự can thiệp của Sa-tan, và sự vinh hiển của Đức Chúa Trời là quan trọng nhất trong nhân loại. Những người như thế giống như các thiên sứ: thanh sạch, đầy khí lực, không bao giờ than van về Đức Chúa Trời, và tận hiến mọi nỗ lực của mình cho sự vinh hiển của Đức Chúa Trời trên đất mà thôi. Bây giờ là thời của đêm tối, tất cả đều đang dò dẫm và tìm kiếm, đêm đen tăm tối làm cho họ dựng tóc gáy, và họ không thể không run rẩy; lắng nghe kỹ, tiếng gió Tây Bắc rít từng cơn từng cơn dường như kèm theo tiếng khóc nức nở bi ai của nhân loại. Con người đau buồn và than khóc cho số phận của mình. Tại sao họ đọc lời Chúa nhưng lại không có khả năng hiểu chúng? Cứ như thể sự sống của họ đang bên bờ tuyệt vọng, như thể sự chết sắp giáng xuống họ, như thể ngày sau rốt của họ ở ngay trước mắt họ. Những hoàn cảnh khốn khổ như thế chính là lúc mà các thiên sứ mong manh kêu cầu Đức Chúa Trời, kể về sự khốn khổ của chính mình trong tiếng khóc thê thảm bất tận. Chính vì lý do này mà các thiên sứ hoạt động giữa các con và dân sự của Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ xuống nơi con người lần nữa; điều này là để ngăn họ bị vướng vào sự thao túng của Sa-tan khi ở trong xác thịt, không thể giải thoát chính mình, và vì vậy họ chỉ hoạt động trong cõi thuộc linh vô hình đối với con người. Do vậy, khi Đức Chúa Trời phán “khi Ta ngự trên ngai trong lòng con người sẽ là lúc các con trai và dân sự của Ta trị vì thế gian,” Ngài đang nói tới khi các thiên sứ trên thế gian vui hưởng những phúc lành của việc phục vụ Đức Chúa Trời trên trời. Bởi con người là sự thể hiện của những linh hồn thiên sứ, Đức Chúa Trời phán điều đó cho con người, dưới thế cũng như trên trời, con người phụng sự Đức Chúa Trời dưới thế cũng như các thiên sứ phụng sự Đức Chúa Trời trên trời một cách trực tiếp - và do vậy, trong những ngày ở dưới thế, con người vui hưởng những phúc lành của từng trời thứ ba. Đây là điều thực sự được nói đến trong những lời này.
1.22.2020
Lời tựa
Hội Thánh Đức Chúa Trời Toàn Năng|Đức Chúa Trời phán:″Lời tựa″
Dù có nhiều người tin vào Đức Chúa Trời, nhưng ít ai hiểu được đức tin nơi Đức Chúa Trời nghĩa là gì, và họ phải làm gì để hợp lòng Đức Chúa Trời. Đó là vì, dù cho con người có quen với từ “Đức Chúa Trời” và những cụm từ như “công việc của Đức Chúa Trời”, nhưng họ lại không biết về Đức Chúa Trời, càng không biết về công việc của Ngài. Thế nên, không lạ gì khi tất cả những ai không biết về Đức Chúa Trời thì mơ hồ trong niềm tin.Con người không đặt niềm tin vào Đức Chúa Trời một cách nghiêm túc vì việc tin vào Đức Chúa Trời quá lạ lẫm, quá xa lạ đối với họ. Theo cách đó, họ thiếu đi nhu cầu về Đức Chúa Trời. Nói theo cách khác, nếu con người không biết về Đức Chúa Trời, không biết công việc của Ngài, thì họ không phải là người thích hợp để Đức Chúa Trời sử dụng, càng không thể thực hiện mong muốn của Đức Chúa Trời. “Niềm tin nơi Đức Chúa Trời” nghĩa là tin rằng có một Đức Chúa Trời tồn tại; đây là khái niệm cơ bản nhất về đức tin nơi Đức Chúa Trời. Hơn thế nữa, việc tin rằng có một Đức Chúa Trời không giống với việc thật lòng tin vào Đức Chúa Trời; hay nói đúng hơn, đó chỉ là một loại đức tin đơn thuần mang đậm màu sắc tôn giáo. Đức tin thật thụ nơi Đức Chúa Trời nghĩa là cảm nghiệm lời nói và công việc của Đức Chúa Trời với niềm tin rằng Đức Chúa Trời nắm quyền cai trị tối thượng trên vạn vật. Nhờ đó, các ngươi sẽ thoát khỏi được tâm tính sa ngã của mình, sẽ thực hiện được ý muốn của Đức Chúa Trời, và sẽ bắt đầu biết đến Đức Chúa Trời. Chỉ khi trải qua một chặng đường như thế mới có thể được xem là đã tin vào Đức Chúa Trời. Vậy mà con người xem việc tin Đức Chúa Trời như điều gì đó rất đơn giản và nhỏ nhặt. Niềm tin của những người như thế thì vô nghĩa và sẽ không bao giờ được Đức Chúa Trời chấp nhận, bởi họ đã đi con đường sai. Ngày nay, vẫn còn có những người tin vào Đức Chúa Trời bằng câu chữ, bằng những học thuyết rỗng tuếch. Họ không nhận ra rằng đức tin nơi Đức Chúa Trời của họ không có thực chất, và rằng họ không thể nhận được sự chấp thuận từ Đức Chúa Trời, vậy mà họ vẫn cầu nguyện để nhận bình an và đầy đủ ân điển từ Đức Chúa Trời. Chúng ta nên dừng lại và tự hỏi mình: Việc tin vào Đức Chúa Trời thật sự có phải là việc dễ nhất trần đời không? Liệu việc tin vào Đức Chúa Trời có phải chỉ để nhận nhiều ân điển từ Đức Chúa Trời thôi không? Liệu những người tin vào Đức Chúa Trời mà không biết về Ngài, và tin vào Đức Chúa Trời nhưng lại chống đối Ngài, có thể thực hiện được mong muốn của Đức Chúa Trời hay không?
1.17.2020
Những Ai Không Tương Hợp Với Đấng Christ Thì Hẳn Là Đối Thủ Của Đức Chúa Trời
Mọi người đều ao ước được nhìn thấy diện mạo của Jêsus, và mọi người đều khao khát ở cùng Ngài. Ta không nghĩ bất kỳ anh chị em nào sẽ nói rằng họ không ao ước được nhìn thấy hay ở cùng Jêsus. Trước khi các ngươi nhìn thấy Jêsus – trước khi các ngươi nhìn thấy Đức Chúa Trời nhập thể - có khả năng các ngươi ấp ủ đủ mọi ý tưởng, ví dụ như, về ngoại hình của Jêsus, cách nói của Ngài, cách sống của Ngài, và nhiều nữa. Nhưng một khi các ngươi thật sự nhìn thấy Ngài, những ý tưởng của các ngươi sẽ nhanh chóng thay đổi. Tại sao lại như vậy? Các ngươi có muốn biết không? Tư tưởng của con người là điều không thể bỏ qua, điều đó đúng – nhưng còn hơn thế nữa, bản chất của Đấng Christ không chịu được sự thay đổi của con người. Các ngươi nghĩ rằng Đấng Christ bất tử hay là một hiền nhân, nhưng không ai coi Ngài là một con người bình thường có bản chất thần. Như vậy, nhiều người trong số những kẻ ngày đêm khao khát được nhìn thấy Đức Chúa Trời thật ra là kẻ thù của Đức Chúa Trời, và không tương hợp với Ngài. Chẳng phải đây là lỗi lầm phía con người sao? Ngay cả bây giờ các ngươi vẫn nghĩ rằng niềm tin và lòng trung thành của các ngươi là đủ để làm cho các ngươi xứng đáng được trông thấy diện mạo của Đấng Christ, nhưng ta khuyên các ngươi trang bị cho mình nhiều điều thực tế hơn! Bởi vì trong quá khứ, hiện tại, và tương lai, nhiều kẻ trong số những người được kết nối với Đấng Christ đã hoặc sẽ thất bại; hết thảy họ đều đóng vai những người Pha-ri-si. Nguyên nhân khiến các ngươi thất bại là gì? Có phải chính là vì trong những ý niệm của các ngươi có một Đức Chúa Trời cao cả và đáng cảm phục. Thế nhưng lẽ thật không như con người ước muốn. Đấng Christ không chỉ không cao cả mà Ngài còn nhỏ bé đặc biệt; Ngài không chỉ là một con người mà Ngài là một con người bình thường; Ngài không chỉ không thể lên trời mà Ngài còn thậm chí không thể di chuyển tự do trên mặt đất. Và do vậy, con người đối đãi với Ngài như thể với một người bình thường; họ đối đãi với Ngài một cách tùy tiện khi họ ở cùng Ngài, và nói chuyện với Ngài một cách vô ý tứ, trong khi đó vẫn chờ đợi sự đến của “Đấng Christ thật”. Các ngươi coi Đấng Christ đã đến như một con người bình thường, và lời Ngài như lời của một con người bình thường. Vì lý do này, các ngươi không nhận được bất cứ điều gì từ Đấng Christ, và thay vào đó đã hoàn toàn phơi bày sự xấu xa của mình ra ánh sáng.
1.16.2020
📔“Lời Chúa mỗi ngày ”
🌠https://vi.godfootsteps.org/proper-relationship-with-God.ht…
Đức Chúa Trời phán: “Để tin Đức Chúa Trời, mến Đức Chúa Trời và làm đẹp lòng Đức Chúa Trời, người ta phải tiếp xúc với Thần của Đức Chúa Trời bằng cả tấm lòng, như thế là làm đẹp lòng Ngài; khi ghi khắc lời Đức Chúa Trời vào lòng mình thì phải để lòng mình được Thần của Đức Chúa Trời lay động”.
Đức Chúa Trời phán: “Để tin Đức Chúa Trời, mến Đức Chúa Trời và làm đẹp lòng Đức Chúa Trời, người ta phải tiếp xúc với Thần của Đức Chúa Trời bằng cả tấm lòng, như thế là làm đẹp lòng Ngài; khi ghi khắc lời Đức Chúa Trời vào lòng mình thì phải để lòng mình được Thần của Đức Chúa Trời lay động”.
1.14.2020
Làm thế nào để biết Đức Chúa Trời trên trần gian
Hết thảy các ngươi đều ao ước được thưởng trước Đức Chúa Trời và được Đức Chúa Trời ưu ái; mọi người đều hy vọng những điều như thế khi họ bắt đầu tin vào Đức Chúa Trời, bởi vì mọi người đều bận theo đuổi những điều cao hơn, và không ai muốn tụt lại phía sau người khác. Con người đơn thuần là vậy. Chính vì lý do này, nhiều người trong các ngươi liên tục cố gắng xun xoe với Đức Chúa Trời trên trời, nhưng thật ra, sự trung thành và vô tư của các ngươi đối với Đức Chúa Trời ít hơn nhiều so với sự trung thành và vô tư của các ngươi đối với bản thân mình. Tại sao Ta nói điều này? Bởi vì Ta hoàn toàn không công nhận lòng trung thành của các ngươi đối với Đức Chúa Trời, và hơn nữa, bởi vì Ta phủ nhận sự tồn tại của Đức Chúa Trời trong lòng các ngươi. Nói thế nghĩa là, Đức Chúa Trời mà các ngươi thờ phượng, Đức Chúa Trời mơ hồ mà các ngươi ngưỡng mộ, hoàn toàn không tồn tại. Lý do ta có thể nói điều này một cách dứt khoát như vậy là vì các ngươi quá xa Đức Chứa Trời thật. Lý do cho lòng trung thành của các ngươi chính là tượng thần trong lòng các ngươi; trong khi đó, đối với Ta, Đức Chúa Trời mà các ngươi coi là không to lớn cũng không nhỏ bé, các ngươi chỉ công nhận bằng lời nói. Khi Ta nói các ngươi xa khỏi Đức Chúa Trời, ý Ta là các ngươi có khoảng khách với Đức Chúa Trời thật, trong khi Đức Chúa Trời mơ hồ lại có vẻ gần trong tầm tay. Khi Ta nói, “không to lớn”, điều này ám chỉ Đức Chúa Trời mà các ngươi tin ngày nay trông đơn thuần là một người không có những khả năng to lớn, một người không cao quý là mấy. Và khi Ta nói “không nhỏ bé”, điều này nghĩa là, mặc dù người này không thể hô phong hoán vũ, Ngài vẫn có thể gọi Thần của Đức Chúa Trời làm công việc rung chuyển các từng trời và đất, khiến con người hoàn toàn sững sờ. Ở bề ngoài, hết thảy các ngươi đều có vẻ rất vâng lời Đấng Christ này trên trần gian, nhưng về bản chất, các ngươi không có đức tin ở Ngài, cũng không yêu Ngài. Nói thế nghĩa là, người mà các ngươi thật sự tin chính là Đức Chúa Trời mơ hồ trong cảm nhận riêng của các ngươi, và người mà các ngươi thật sự yêu chính là Đức Chúa Trời mà các ngươi khao khát ngày đêm, nhưng chưa bao giờ được nhìn thấy trực tiếp. Đối với Đấng Christ, đức tin của các ngươi chỉ rất nhỏ, và tình yêu của các ngươi thì bằng không. Đức tin nghĩa là niềm tin và sự tin cậy; tình yêu nghĩa là sự quý mến và cảm phục trong lòng mình, không bao giờ rời bỏ. Ấy vậy mà đức tin và tình yêu của các ngươi với Đấng Christ của hôm nay lại quá kém so với điều này. Khi nói đến đức tin, các ngươi có đức tin thế nào với Ngài? Khi nói đến tình yêu, các ngươi yêu Ngài theo cách nào? Các ngươi đơn thuần không có sự hiểu biết về tâm tính của Ngài, càng ít biết về bản thể của Ngài, vậy thì làm sao các ngươi có đức tin ở Ngài? Đâu là thực tế của niềm tin của các ngươi với Ngài? Các ngươi yêu Ngài như thế nào? Đâu là thực tế của tình yêu của các ngươi đối với Ngài?
1.13.2020
Hiểu được tâm tính của Đức Chúa Trời là rất quan trọng
Hội Thánh Đức Chúa Trời Toàn Năng|Đức Chúa Trời phán:"Hiểu được tâm tính của Đức Chúa Trời là rất quan trọng "
Có nhiều điều ta muốn các ngươi đạt được, nhưng không phải mọi hành động của các ngươi, không phải mọi điều trong đời sống của các ngươi đều có thể đáp ứng được yêu cầu của Ta, bởi vậy cho nên Ta không có lựa chọn nào khác là phải đi thẳng vào vấn đề và giảng giải cho các ngươi biết ý nguyện của Ta. Cũng bởi sự thông sáng của các ngươi là kém cỏi và khả năng đánh giá của các ngươi cũng kém cỏi như thế, các ngươi hầu như hoàn toàn chẳng biết gì về tâm tính và bản thể của Ta – và như thế việc ta phải để cho các ngươi biết về những điều trên là cấp bách. Cho dù trước đây ngươi đã hiểu biết chừng nào, cho dù ngươi có mong muốn hiểu biết những vấn đề này hay không, Ta vẫn phải giảng giải thật chi tiết cho các ngươi. Những vấn đề này không hoàn toàn xa lạ với các ngươi, nhưng các ngươi vẫn còn thiếu rất nhiều sự hiểu biết, sự thông thuộc với những ý nghĩa ẩn chức trong đó. Nhiều người trong các ngươi chỉ hiểu mù mờ, hiểu một phần nào đó hoặc hiểu chưa hoàn toàn về vấn đề. Để giúp các ngươi thực hành lẽ thật được tốt hơn – thực hành những lời của Ta được tốt hơn – Ta nghĩ đây là những vấn đề mà các ngươi phải nhận thức được trước hết và quan trọng nhất. Nếu không, đức tin của các ngươi sẽ vẫn mãi mơ hồ, giả hình, và đầy những lễ nghi tôn giáo. Nếu ngươi không hiểu tâm tính của Đức Chúa Trời, thì ngươi không thể làm được công việc mà ngươi nên làm cho Ngài. Nếu ngươi không biết về bản thể của Đức Chúa Trời, thì ngươi không thể có được sự tôn kính và kính sợ đối với Ngài; thay vào đó, chỉ có sự vô tâm thoái thác hời hợt, và hơn nữa là sự báng bổ vô phương cứu chữa. Mặc dù việc hiểu được tâm tính của Đức Chúa Trời là thật sự quan trọng, và việc biết được bản thể của Đức Chúa Trời là không thể coi nhẹ, nhưng chưa ai từng nghiên cứu kỹ lưỡng hay đào sâu vào những vấn đề này. Rõ ràng hết thảy các ngươi đã bác bỏ các sắc lệnh quản lý mà Ta đã ban ra. Nếu các ngươi không hiểu được tâm tính của Đức Chúa Trời thì rất có khả năng các ngươi sẽ xúc phạm tâm tính Ngài. Xúc phạm tâm tính của Ngài thì khác nào khiêu khích sự giận dữ từ bản thân Đức Chúa Trời, nếu như thế thì kết cục cuối cùng của những hành động của ngươi sẽ là vi phạm các sắc lệnh quản lý. Bây giờ ngươi nên nhận ra rằng khi ngươi biết đến bản thể của Đức Chúa Trời, thì ngươi cũng có thể hiểu được tâm tính của Ngài – và khi ngươi hiểu được tâm tính của Ngài, thì ngươi cũng sẽ hiểu được các sắc lệnh quản lý. Không cần phải nói, phần lớn những điều chứa đựng trong các sắc lệnh quản lý đều đề cập đến tâm tính của Đức Chúa Trời, nhưng không phải toàn bộ tâm tính của Ngài được bày tỏ trong các sắc lệnh quản lý; bởi vậy, các ngươi phải tiến thêm một bước để bồi đắp sự hiểu biết của mình về tâm tính của Đức Chúa Trời.
1.12.2020
Ba lời khuyên răn
Là một người tin vào Đức Chúa Trời, ngươi nên trung thành với không ai khác ngoài Ngài trong mọi việc và có thể tuân theo ý muốn của Ngài trong mọi việc. Tuy nhiên, dù ai cũng hiểu giáo lý này, nhưng những sự thật rõ ràng và cơ bản nhất này, xét về phương diện con người, lại không thể được nhìn thấy đầy đủ trong họ, bởi những nỗi thống khổ khác nhau của họ như sự thiếu hiểu biết, ngu xuẩn và bại hoại. Bởi thế, trước khi các ngươi quyết định kết cục của mình, trước tiên Ta nên nói với các ngươi đôi điều, những điều vô cùng quan trọng đối với các ngươi. Trước khi Ta tiếp tục, trước hết, các ngươi nên hiểu điều này: Những lời Ta phán là những lẽ thật hướng đến toàn nhân loại, và không đề cập đến một người hay kiểu người cụ thể nào. Do đó, các ngươi nên tập trung tiếp nhận lời của Ta từ quan điểm của lẽ thật, cũng như duy trì thái độ hoàn toàn tập trung và chân thành. Đừng bỏ qua dù chỉ một từ hoặc một lẽ thật mà Ta phán, và đừng coi thường tất cả những lời của Ta. Trong cuộc sống của các ngươi, Ta thấy nhiều điều các ngươi làm không liên quan đến lẽ thật, và vì vậy Ta đặc biệt yêu cầu ngươi trở thành người đầy tớ của lẽ thật và không bị sự gian ác và xấu xa bắt làm tôi mọi. Đừng giẫm đạp lên lẽ thật hay làm ô uế bất kỳ góc nào trong nhà của Đức Chúa Trời. Đây là lời khuyên răn của Ta dành cho các ngươi. Giờ Ta sẽ bắt đầu nói về chủ đề này ngay:
1.11.2020
Thực hành (5)
Trong Thời đại Ân điển, Jêsus đã phán một vài lời và thực hiện một giai đoạn của công tác. Tất cả chúng đều có bối cảnh và đều phù hợp với tình trạng của con người thời ấy; Jêsus đã phán và hành động phù hợp với bối cảnh thời ấy. Ngài cũng đã phán ra một số lời tiên tri. Ngài đã nói tiên tri rằng Thần của lẽ thật sẽ đến trong những ngày sau rốt và thực hiện một giai đoạn của công tác. Có nghĩa là Ngài đã không hiểu gì ngoài công tác mà chính Ngài cần làm trong thời đại ấy; nói cách khác, công tác do Đức Chúa Trời nhập thể đem lại là có giới hạn. Do vậy, Ngài chỉ thực hiện công tác của thời đại mà Ngài sống và không làm công tác khác không có liên hệ với Ngài. Vào thời điểm ấy, Jêsus đã không làm việc theo cảm xúc hay khải tượng, nhưng phù hợp với thời điểm và bối cảnh. Không ai dẫn dắt hay hướng dẫn Ngài. Toàn bộ công tác của Ngài là chính hữu thể của Ngài - đó là công tác phải được Thần của Đức Chúa Trời nhập thể thực hiện, là toàn bộ công tác do sự nhập thể mở ra. Jêsus đã chỉ hành động theo điều chính Ngài đã thấy và đã nghe. Nói cách khác, Thần đã hành động trực tiếp; không cần các sứ giả hiện ra với Ngài và cho Ngài những giấc mơ, cũng không cần bất kỳ ánh sáng vĩ đại nào soi rọi lên Ngài và cho Ngài nhìn thấy. Ngài tự do làm việc mà không bị gò bó, vì công tác của Ngài không dựa trên cảm giác. Nói cách khác, khi Ngài làm việc, Ngài đã không đoán mò, mà dễ dàng hoàn thành mọi việc, làm việc và phán theo ý tưởng của riêng Ngài và điều Ngài nhìn thấy tận mắt, cung cấp của ăn thức uống lương thực tức thời cho mỗi môn đồ đi theo Ngài. Đây là sự khác biệt giữa công tác của Đức Chúa Trời và công tác của con người: Khi con người làm việc, họ tìm kiếm và mò mẫm, luôn bắt chước và cân nhắc dựa trên nền tảng do người khác đặt ra để dấn tới sâu hơn. Công tác của Đức Chúa Trời là sự cung cấp bản thể của Ngài Ngài là gì, và Ngài thực hiện công tác mà chính Ngài phải làm. Ngài không cung cấp lương thực cho hội thánh bằng cách sử dụng kiến thức từ công tác của bất cứ con người nào. Thay vào đó, Ngài thực hiện công tác hiện tại dựa trên tình trạng của con người. Do đó, làm việc bằng cách này tự do hơn công tác mà con người làm gấp hàng nghìn lần. Đối với con người, thậm chí dường như Đức Chúa Trời không tuân theo bổn phận của Ngài và làm việc theo cách Ngài thích - nhưng mọi công tác Ngài làm là mới. Tuy nhiên, ngươi nên biết rằng công tác của Đức Chúa Trời nhập thể không bao giờ dựa trên cảm giác. Vào thời điểm ấy, sau khi Jêsus đã hoàn thành công tác bị đóng đinh của Ngài, khi các môn đồ đi theo Jêsus đã đạt tới một mức độ nhất định trong trải nghiệm của mình, họ cảm thấy rằng ngày của Đức Chúa Trời sắp đến và rằng họ sẽ sớm gặp Chúa. Đó là cảm giác họ có, và đối với họ, cảm giác này hết sức quan trọng. Nhưng thực tế, cảm giác bên trong con người không đáng tin cậy. Họ đã cảm thấy rằng có lẽ họ sắp đến được điểm cuối con đường, hoặc tất cả mọi điều họ đã làm và chịu đựng được Đức Chúa Trời phê chuẩn. Phao-lô cũng đã nói rằng người đã xong sự chạy, đã đánh trận tốt lành, và mão triều thiên của sự công bình đã để dành cho người. Đó là cảm giác của người và người đã viết điều này trong các thư tín và gửi đến các hội thánh. Các hành động như thế đến từ trọng trách người gánh vác cho các hội thánh, và do đó đã bị Đức Thánh Linh phớt lờ. Khi Phao-lô nói những lời ấy, người không có cảm giác bất an, cũng không cảm thấy hổ thẹn gì. và do đó người tin rằng những điều như thế là rất bình thường và khá đúng đắn, và rằng chúng đến từ Đức Thánh Linh. Nhưng quan sát từ góc độ của ngày nay, chúng đã không hề đến từ Đức Thánh Linh. Chúng chẳng khác gì những ảo tưởng của một con người. Có nhiều ảo tưởng bên trong con người, và Đức Chúa Trời không chú ý đến chúng hoặc bày tỏ bất cứ ý kiến nào khi chúng xảy ra. Phần lớn công tác của Đức Thánh Linh không được thực hiện thông qua cảm giác của con người - Đức Thánh Linh không hành động bên trong cảm giác của con người ngoại trừ những thời kỳ gian khổ, đen tối trước khi Đức Chúa Trời trở nên xác thịt, hay thời kỳ không có các sứ đồ hay người làm công tác. Trong giai đoạn ấy, công tác của Đức Thánh Linh cho con người một số cảm giác đặc biệt nhất định. Ví dụ: Khi con người không có sự hướng dẫn từ lời Chúa, họ có cảm giác hạnh phúc không thể tả khi họ cầu nguyện; họ có cảm giác hân hoan trong lòng, họ được bình an và thanh thản. Một khi họ có sự hướng dẫn từ lời, con người cảm thấy tinh thần phấn chấn, họ có con đường thực hành trong hành động của mình, và tất nhiên, họ cũng có cảm giác bình an và thanh thản. Khi con người đối diện với hiểm nguy, hay Đức Chúa Trời ngăn họ làm việc gì đó, trong lòng họ cảm thấy bất an và khó chịu. Đây hoàn toàn là những cảm giác do Đức Thánh Linh ban cho con người. Tuy nhiên, nếu một môi trường thù địch tạo nên bầu không khí sợ hãi, khiến con người trở nên đặc biệt lo âu và dễ hoảng sợ, đó là một sự bày tỏ bình thường của nhân tính và không liên quan đến công tác của Đức Thánh Linh.
1.10.2020
Thực hành (3)
Các ngươi phải có khả năng sống độc lập, có thể tự mình ăn và uống lời Chúa, tự mình trải nghiệm lời Chúa, và sống một đời sống thuộc linh đúng đắn mà không cần đến sự dẫn dắt của những người khác. Các ngươi phải có khả năng dựa vào những lời Đức Chúa Trời phán hôm nay để sống, đi vào trải nghiệm thật sự, và có được những sự thông sáng thật sự. Chỉ như vậy các ngươi mới có thể đứng vững. Ngày nay, nhiều người không hoàn toàn hiểu những hoạn nạn và thử thách của tương lai. Trong tương lai, một số người sẽ trải qua những hoạn nạn và một số thì sẽ trải nghiệm hình phạt. Hình phạt này sẽ nghiêm trọng hơn; nó sẽ là sự đến của những sự kiện. Ngày nay, tất cả những gì ngươi trải nghiệm, thực hành, và biểu lộ đều đặt nền móng cho những sự thử thách của tương lai, và chí ít, ngươi phải có thể sống độc lập. Ngày nay, tình hình liên quan đến nhiều người trong giáo hội nói chung thường là thế này: Nếu có những người lãnh đạo và những người làm công thì họ vui, và nếu không có thì họ không vui. Họ không để tâm đến công tác của giáo hội, cũng không để tâm đến đời sống thuộc linh của họ, và không có chút gánh nặng nào - họ qua loa như chim Hàn Hào.[a] Nói thẳng ra, đối với nhiều người, công tác mà Ta đã làm đơn thuần là công tác chinh phục, bởi vì nhiều người về cơ bản không đáng được làm cho hoàn thiện. Chỉ một phần nhỏ dân sự có thể được làm cho hoàn thiện. Nếu khi đã nghe những lời này, ngươi nghĩ “bởi vì công tác được thực hiện bởi Đức Chúa Trời chỉ là để chinh phục con người, tôi sẽ chỉ theo một cách đại khái thôi”, thì một thái độ như vậy làm sao có thể được chấp nhận? Nếu ngươi thật sự có lương tâm, vậy thì ngươi phải có một trọng trách, và một ý thức trách nhiệm. Ngươi phải nói: “Bất kể là tôi sẽ được chinh phục hay làm cho hoàn thiện hay không, tôi phải thực hiện bước làm chứng này một cách đúng đắn”. Là một tạo vật của Đức Chúa Trời, người ta có thể hoàn toàn bị chinh phục bởi Đức Chúa Trời, và sau hết, họ có thể làm đẹp lòng Chúa, đáp lại tình yêu của Chúa với một tấm lòng yêu thương Chúa và hoàn toàn dâng mình cho Chúa. Đây là trách nhiệm của con người, là bổn phận phải được thực hiện bởi con người, và trọng trách mà con người phải mang, và con người phải hoàn thành sứ mệnh này. Chỉ khi đó họ mới thật sự tin vào Đức Chúa Trời. Ngày nay, có phải những gì ngươi làm trong giáo hội là sự hoàn thành trách nhiệm của ngươi không? Điều này tùy thuộc vào việc ngươi có đang gánh vác hay không, và vào kiến thức của chính ngươi. Khi trải nghiệm công tác này, nếu con người được chinh phục và có kiến thức thật, thì họ sẽ có thể vâng lời bất kể tiền đồ hay vận mệnh của mình. Theo cách này, công trình vĩ đại của Đức Chúa Trời sẽ được thực hiện trọn vẹn, bởi vì con người các ngươi không có khả năng nào khác ngoài điều này, và không thể đáp ứng bất kỳ đòi hỏi nào cao hơn. Dẫu vậy trong tương lai, một số người sẽ được làm cho hoàn thiện. Phẩm chất của họ sẽ cải thiện, trong tâm linh họ sẽ có kiến thức sâu hơn, đời sống của họ sẽ phát triển… Dẫu vậy một số người hoàn toàn không thể đạt được điều này, và do đó không thể được cứu rỗi. Ta phán họ không thể được cứu rỗi là có lý do. Trong tương lai, một số người sẽ được chinh phục, một số sẽ bị loại bỏ, một số sẽ được làm cho hoàn thiện, và một số sẽ được sử dụng - và do đó một số sẽ trải qua những hoạn nạn, một số sẽ trải nghiệm những hình phạt (cả những tai ương tự nhiên lẫn những bất hạnh gây bởi con người), một số sẽ bị loại bỏ, và một số sẽ sống sót. Trong quá trình này, mỗi người sẽ được phân ra theo loại, với mỗi nhóm đại diện cho một dạng người. Không phải mọi người đều bị loại bỏ, cũng không phải mọi người đều được làm cho hoàn thiện. Đây là vì phẩm chất của người Trung Quốc quá kém, và chỉ một số rất nhỏ trong số họ có khả năng tự biết mình như Phao-lô đã có. Trong số các ngươi, rất ít người có cùng quyết tâm yêu Đức Chúa Trời như Phi-e-rơ, hay cùng dạng đức tin như Gióp. Hầu như không có ai trong các ngươi là người kính sợ và hầu việc Đức Giê-hô-va như Đa-vít đã làm, là người có cùng mức độ trung thành như vậy. Các ngươi thật đáng thương hại!
1.09.2020
Lẽ mầu nhiệm của sự nhập thể (3)
Hội Thánh Đức Chúa Trời Toàn Năng|Đức Chúa Trời phán:"Lẽ mầu nhiệm của sự nhập thể (3)"
Khi Đức Chúa Trời thực hiện công tác của mình, Ngài đến không phải để tham gia vào bất kỳ việc xây dựng hoặc phong trào nào, mà để thi hành chức vụ của Ngài. Mỗi lần Ngài trở nên xác thịt, đó chỉ là để hoàn tất một giai đoạn công tác và mở ra một thời đại mới. Giờ đây Thời đại Vương quốc đã đến, và việc đào tạo cho vương quốc. Giai đoạn công tác này không phải là công tác của con người, nó không phải để làm việc con người đến một mức độ cụ thể; mà chỉ là để hoàn tất một phần công tác của Đức Chúa Trời. Những gì Ngài làm không phải là công tác của con người, nó không phải để đạt được một kết quả nhất định trong làm việc con người trước khi rời khỏi thế gian; nó là để thi hành chức vụ của Ngài và hoàn thành công tác mà Ngài phải làm, đó là việc sắp xếp hợp lý cho công tác của Ngài trên đất, và qua đó trở nên vinh hiển. Công tác của Đức Chúa Trời nhập thể khác với của những người được Đức Thánh Linh sử dụng. Khi Đức Chúa Trời đến để làm công tác của Ngài trên đất, Ngài chỉ quan tâm đến việc thi hành chức vụ của Ngài. Đối với mọi vấn đề khác không liên quan đến chức vụ của Ngài, Ngài hầu như không tham gia, thậm chí đến mức nhắm mắt làm ngơ. Ngài chỉ đơn giản thực hiện công tác mà Ngài phải làm, và Ngài đặc biệt không quan tâm đến công tác mà con người phải làm. Công tác Ngài làm chỉ là công tác liên quan đến thời đại mà Ngài đang sống và đến chức vụ mà Ngài phải thi hành, như thể mọi vấn đề khác đều nằm ngoài phạm vi của Ngài. Ngài không trang bị cho mình kiến thức cơ bản hơn về việc sống như một con người, Ngài cũng không học nhiều kỹ năng xã hội hơn, cũng không trang bị cho mình bất kỳ điều gì khác mà con người hiểu. Mọi thứ con người phải sở hữu không hề làm Ngài bận tâm và Ngài chỉ đơn giản làm công tác là bổn phận của Ngài. Và như vậy, như con người nhận thấy, Đức Chúa Trời nhập thể bị thiếu kém rất nhiều đến nỗi Ngài thậm chí không chú ý đến nhiều điều mà con người phải có, và hơn nữa không có sự hiểu biết về những vấn đề như thế. Những điều như kiến thức thông thường về cuộc sống, cũng như các nguyên tắc điều chỉnh hành vi cá nhân và sự tương tác với những người khác, dường như không liên quan đến Ngài. Nhưng ngươi đơn giản là không thể cảm nhận được từ Đức Chúa Trời nhập thể một chút dấu hiệu của sự bất thường nào. Điều đó có nghĩa là, nhân tính của Ngài chỉ duy trì cuộc sống của Ngài như một người bình thường và lý trí thông thường của bộ não Ngài, cho Ngài khả năng phân biệt giữa đúng và sai. Tuy nhiên, Ngài không được trang bị thêm bất kỳ điều gì khác, mọi thứ đó đều là những thứ mà chỉ riêng con người (những loài thọ tạo) nên sở hữu. Đức Chúa Trời trở nên xác thịt chỉ để thi hành chức vụ của riêng Ngài. Công tác của Ngài nhắm đến toàn bộ thời đại, không phải đến bất kỳ một người nào hoặc một nơi nào mà là toàn bộ vũ trụ. Đây là phương hướng của công tác Ngài và là nguyên tắc mà qua đó Ngài làm việc. Không ai có thể thay đổi điều này, và con người không có cách nào tham gia vào đó. Mỗi lần Đức Chúa Trời trở nên xác thịt, Ngài mang theo với Ngài công tác của thời đại đó, và không có ý định sống cạnh con người trong hai mươi, ba mươi, bốn mươi, hoặc thậm chí bảy mươi hoặc tám mươi năm để họ có thể hiểu rõ hơn và có được sự thông sáng về Ngài. Không cần như thế! Làm như vậy sẽ không có cách nào đào sâu thêm kiến thức mà con người có về tâm tính vốn có của Đức Chúa Trời; thay vào đó, nó sẽ chỉ thêm vào các quan niệm của họ và khiến cho các quan niệm và suy nghĩ của họ trở nên hủ lậu. Và vì vậy tất cả các ngươi buộc phải hiểu chính xác công tác của Đức Chúa Trời nhập thể là gì. Chắc chắn các ngươi không thể không hiểu được những lời Ta đã phán cùng các ngươi rằng: “Ta đã đến không phải để trải nghiệm cuộc sống của một con người bình thường” chứ? Các ngươi đã quên những lời rằng: “Đức Chúa Trời đến thế gian không phải để sống cuộc đời của một con người bình thường” rồi sao? Các ngươi không hiểu mục đích của Đức Chúa Trời trong việc trở nên xác thịt, và các ngươi cũng không biết ý nghĩa của câu: “Làm sao Đức Chúa Trời có thể đến thế gian với ý định trải nghiệm cuộc sống của một loài thọ tạo?”. Đức Chúa Trời đến thế gian chỉ để hoàn tất công tác của Ngài, và vì vậy công tác của Ngài trên đất thật ngắn ngủi. Ngài đến thế gian không phải với ý định khiến cho Thần của Đức Chúa Trời trau dồi thân thể xác thịt của Ngài để trở thành một con người vượt trội, người sẽ dẫn dắt hội thánh. Khi Đức Chúa Trời đến thế gian, đó là Lời trở nên xác thịt; tuy nhiên, con người không biết về công tác của Ngài và áp đặt mọi thứ cho Ngài. Nhưng tất cả các ngươi nên nhận ra rằng Đức Chúa Trời là “Lời trở nên xác thịt”, không phải là một thân thể xác thịt đã được Thần của Đức Chúa Trời trau dồi để đảm nhận vai trò của Đức Chúa Trời cho thời điểm này. Bản thân Đức Chúa Trời không phải là sản phẩm của sự trau dồi, mà là Lời trở nên xác thịt, và ngày nay Ngài chính thức thực hiện công tác của Ngài giữa tất cả các ngươi. Tất cả các ngươi đều biết và thừa nhận rằng sự nhập thể của Đức Chúa Trời là một lẽ thật thực tế, thế mà các ngươi cứ giả vờ như đó một sự hiểu biết vượt quá khả năng thực hiện của các ngươi. Từ công tác của Đức Chúa Trời nhập thể cho đến ý nghĩa và bản chất sự nhập thể của Ngài, các ngươi không thể nắm bắt được những điều này một chút nào và chỉ theo những người khác qua những lời đọc thuộc lòng liến thoắng từ trí nhớ. Ngươi có tin là Đức Chúa Trời nhập thể giống như ngươi tưởng tượng không?
1.08.2020
Lẽ mầu nhiệm của sự nhập thể (2)
Vào thời điểm khi Jêsus làm việc tại Giu-đê, Ngài đã làm việc một cách công khai, nhưng hiện nay, Ta làm việc và phán giữa các ngươi trong bí mật. Những kẻ ngoại đạo hoàn toàn không biết về việc đó. Công tác của Ta ở giữa các ngươi được đóng kín đối với người ngoài. Những lời này, những sự trừng phạt và phán xét này, chỉ được tất cả các ngươi mà chẳng có ai khác biết đến. Tất cả công tác này được thực hiện giữa các ngươi và chỉ mở ra cho các ngươi; không ai trong số những kẻ ngoại đạo biết được điều này, vì vẫn chưa đến lúc. Những người ở đây sắp được làm cho trọn vẹn sau khi chịu sự trừng phạt, nhưng những người ngoài không hay biết gì về điều này. Công tác này là quá kín giấu! Đối với họ, việc Đức Chúa Trời trở nên xác thịt được giấu kín, nhưng đối với những người trong dòng chảy này, người ta có thể nói rằng Ngài là công khai. Mặc dù nơi Đức Chúa Trời tất cả đều công khai, tất cả đều được tỏ lộ, và tất cả đều được giải phóng, nhưng điều này chỉ đúng với những người tin vào Ngài; khi nói đến phần còn lại, là những kẻ ngoại đạo, thì lại không được biết gì cả. Công tác đang được thực hiện tại đây lúc này được đóng kín nghiêm ngặt để họ không biết đến. Nếu họ biết đến công tác này, thì tất cả những gì họ sẽ làm là lên án và bắt bớ nó. Họ sẽ không tin vào điều đó. Để làm việc trong quốc gia của con rồng lớn sắc đỏ, nơi lạc hậu nhất này, không phải là nhiệm vụ dễ dàng. Nếu công tác này được đưa ra công khai, nó sẽ không thể tiếp tục. Giai đoạn công tác này đơn giản là không thể được thực hiện tại nơi này. Nếu công tác này được thực hiện công khai, làm sao họ có thể cho phép nó tiến triển được? Chẳng phải điều này thậm chí sẽ đặt công tác vào rủi ro lớn hơn sao? Nếu công tác này không được che giấu, mà lại được thực hiện như trong thời của Jêsus, khi Ngài đã chữa lành người bệnh và đuổi quỷ một cách ngoạn mục, thì chẳng phải nó đã bị ma quỷ “bắt bỏ tù” từ lâu rồi sao? Liệu họ có thể khoan dung cho sự tồn tại của Đức Chúa Trời hay không? Nếu giờ đây Ta bước vào các hội trường để rao giảng và thuyết giáo con người, thì chẳng phải Ta đã tiêu tan thành từng mảnh từ lâu rồi hay sao? Và nếu điều này xảy ra, thì làm sao công tác của Ta có thể tiếp tục được thực hiện? Lý do không hề có dấu kỳ phép lạ nào được thể hiện công khai là vì mục đích che giấu. Vì vậy, đối với những người ngoại đạo, công tác của Ta không thể được nhìn thấy, được biết đến hoặc được khám phá. Nếu giai đoạn công tác này được thực hiện theo cách tương tự như của Jêsus trong Thời đại Ân điển, thì nó không thể được vững chắc như bây giờ. Vì vậy, làm việc một cách bí mật theo cách này là có lợi cho các ngươi và cho toàn bộ công tác. Khi công tác của Đức Chúa Trời trên đất chấm dứt, nghĩa là khi công tác bí mật này kết thúc, thì giai đoạn công tác này sẽ rộ lên công khai. Tất cả sẽ biết rằng có một nhóm người chiến thắng ở Trung Quốc; tất cả sẽ biết rằng Đức Chúa Trời trở nên xác thịt ở Trung Quốc và công tác của Ngài đã kết thúc. Chỉ khi đó nó mới trở nên rõ ràng cho con người: Tại sao Trung Quốc vẫn chưa biểu hiện sự suy giảm hay sụp đổ? Hóa ra Đức Chúa Trời đang đích thân thực hiện công tác của Ngài tại Trung Quốc và đã hoàn thiện một nhóm người trở thành những người chiến thắng.
Đức Chúa Trời trở nên xác thịt chỉ biểu lộ chính mình Ngài cho một bộ phận những người theo Ngài trong giai đoạn này khi Ngài đích thân thực hiện công tác của Ngài, chứ không phải cho mọi sinh vật. Ngài đã trở nên xác thịt chỉ để hoàn thành một giai đoạn trong công tác của Ngài, chứ không phải để cho con người thấy hình ảnh của Ngài. Tuy nhiên, công tác của Ngài phải được chính Ngài thực hiện, do đó Ngài cần thiết phải làm như vậy trong xác thịt. Khi công tác này kết thúc, Ngài sẽ rời khỏi thế giới loài người; Ngài không thể ở lại lâu dài ở giữa nhân loại vì sợ cản trở công tác sắp đến. Những gì Ngài biểu lộ cho dân chúng chỉ là tâm tính công chính và mọi việc làm của Ngài, chứ không phải là hình ảnh của thân thể Ngài khi Ngài đã hai lần trở nên xác thịt, vì hình ảnh của Đức Chúa Trời chỉ có thể được thể hiện thông qua tâm tính của Ngài, chứ không thể bị thay thế bằng hình ảnh của xác thịt nhập thể của Ngài. Ảnh tượng của xác thịt Ngài chỉ được bày tỏ cho một số lượng người giới hạn, chỉ cho những người theo Ngài khi Ngài hành động trong xác thịt mà thôi. Đây là lý do tại sao công tác đang được thực hiện giờ đây được làm trong bí mật. Theo cách tương tự, Jêsus đã chỉ bày tỏ chính mình Ngài cho người Do Thái khi Ngài làm công tác của mình, và không bao giờ công khai bày tỏ chính mình Ngài cho bất kỳ quốc gia nào khác. Do đó, một khi Ngài đã hoàn thành công tác của mình, Ngài đã nhanh chóng rời khỏi con người và không ở lại; sau đó, không phải Ngài, hình ảnh này của con người, là Đấng đã bày tỏ chính mình Ngài cho con người, mà là Đức Thánh Linh, là Đấng đã trực tiếp thực hiện công tác. Một khi công tác của Đức Chúa Trời trở nên xác thịt được hoàn thành trọn vẹn, Ngài rời khỏi thế giới phàm tục, và không bao giờ làm công tác tương tự như những gì Ngài đã làm khi còn ở trong xác thịt nữa. Sau đấy, tất cả công tác đều được Đức Thánh Linh trực tiếp thực hiện. Trong giai đoạn này, con người hầu như không thể nhìn thấy hình ảnh thân thể xác thịt của Ngài; Ngài không hề bày tỏ chính mình Ngài cho con người, mà vẫn luôn ẩn giấu. Thời gian cho công tác của Đức Chúa Trời trở nên xác thịt có hạn. Nó được thực hiện trong một thời đại, giai đoạn, quốc gia cụ thể, và ở giữa những con người cụ thể. Công tác này chỉ đại diện cho công tác trong giai đoạn nhập thể của Đức Chúa Trời, và cụ thể theo thời đại; nó đại diện cho công tác của Thần của Đức Chúa Trời trong một thời đại cụ thể, chứ không phải cho toàn bộ công tác của Ngài. Do đó, hình ảnh của Đức Chúa Trời trở nên xác thịt sẽ không được thể hiện cho mọi dân tộc. Những gì được thể hiện cho dân chúng là sự công chính của Đức Chúa Trời và toàn bộ tâm tính của Ngài, thay vì hình ảnh của Ngài khi Ngài đã hai lần trở nên xác thịt. Đó không phải là một hình ảnh đơn lẻ được tỏ ra cho con người, cũng không phải là hai hình ảnh kết hợp lại. Do đó, xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời buộc phải rời khỏi trần gian sau khi hoàn thành công tác mà Ngài cần phải làm, vì Ngài chỉ đến để làm công tác mà Ngài phải làm, chứ không phải để cho mọi người thấy hình ảnh của Ngài. Mặc dù ý nghĩa của sự nhập thể đã được Đức Chúa Trời làm trọn qua hai lần trở nên xác thịt, nhưng Ngài vẫn sẽ không công khai biểu lộ chính mình Ngài cho bất kỳ quốc gia nào chưa từng thấy Ngài trước đây. Jêsus sẽ không bao giờ thể hiện chính mình Ngài là Mặt Trời công chính cho người Do Thái lần nào nữa, và Ngài cũng sẽ không lên núi Ô-li-ve và hiện ra cho mọi dân tộc; tất cả những gì người Do Thái đã thấy là chân dung của Jêsus trong thời gian Ngài ở Giu-đê. Điều này là do công tác của Jêsus trong sự nhập thể của Ngài đã kết thúc hai nghìn năm trước; Ngài sẽ không trở lại Giu-đê trong hình ảnh của một người Do Thái, càng không thể hiện bản thân trong hình ảnh của Ngài từ thời Ngài ở Giu-đê cho bất kỳ quốc gia dân ngoại nào, vì hình ảnh của Jêsus trở nên xác thịt chỉ là hình ảnh của một người Do Thái, chứ không phải hình ảnh của Con người mà Giăng đã nhìn thấy. Mặc dù Jêsus đã hứa với các môn đồ của Ngài rằng Ngài sẽ trở lại, nhưng Ngài sẽ không chỉ đơn giản bày tỏ bản thân trong hình ảnh của một người Do Thái cho tất cả những người ở các quốc gia dân ngoại. Các ngươi phải biết rằng công tác của Đức Chúa Trời trở nên xác thịt là để mở ra một thời đại. Công tác này được giới hạn trong một vài năm, và Ngài không thể hoàn thành mọi công tác của Thần của Đức Chúa Trời được. Theo cách tương tự, hình ảnh của Jêsus như một người Do Thái chỉ có thể đại diện cho hình ảnh của Đức Chúa Trời khi Ngài làm việc tại Giu-đê, và Ngài đã chỉ có thể làm công tác chịu đóng đinh trên thập tự giá. Trong giai đoạn Jêsus ở trong xác thịt, Ngài đã không thể làm công tác chấm dứt thời đại hoặc hủy diệt loài người. Do đó, sau khi Ngài đã hoàn tất việc bị đóng đinh trên thập tự giá và kết thúc công tác của mình, Ngài đã ngự lên trên cao và mãi mãi che giấu bản thân Ngài khỏi con người. Từ đó trở đi, các tín hữu trung tín từ các quốc gia dân ngoại đã không thể nhìn thấy sự biểu lộ của Jêsus, mà chỉ có bức chân dung của Ngài mà họ đã dán trên tường. Bức chân dung này chỉ là một thứ được vẽ bởi con người, chứ không phải là hình ảnh mà chính Đức Chúa Trời đã tỏ ra cho con người. Đức Chúa Trời sẽ không công khai thể hiện chính mình Ngài cho dân chúng trong hình ảnh từ khi Ngài đã hai lần trở nên xác thịt. Công tác mà Ngài thực hiện ở giữa nhân loại là để cho phép họ hiểu được tâm tính của Ngài. Tất cả điều này được tỏ ra cho con người bằng công tác của các thời đại khác nhau; nó được hoàn thành thông qua tâm tính mà Ngài đã cho biết và công tác mà Ngài đã thực hiện, hơn là thông qua sự biểu lộ của Jêsus. Điều đó có nghĩa là, hình ảnh của Đức Chúa Trời được con người biết đến không phải thông qua hình ảnh nhập thể, mà đúng hơn là thông qua công tác được thực hiện bởi Đức Chúa Trời nhập thể, là Đấng có cả hình và ảnh; và thông qua công tác của Ngài, hình ảnh của Ngài được tỏ ra và tâm tính của Ngài được biết đến. Đây là ý nghĩa của công tác mà Ngài muốn thực hiện trong xác thịt.
Một khi công tác của hai lần nhập thể của Đức Chúa Trời kết thúc, Ngài sẽ bắt đầu cho thấy tâm tính công chính của Ngài trên khắp các quốc gia dân ngoại, cho phép dân chúng nhìn thấy hình ảnh của Ngài. Ngài sẽ biểu lộ tâm tính của Ngài và bằng cách này làm rõ kết cục của những loại người khác nhau, từ đó hoàn toàn khép lại thời đại cũ. Lý do công tác trong xác thịt của Ngài không mở rộng (cũng như Jêsus đã chỉ làm việc tại Giu-đê, và ngày nay Ta chỉ làm việc ở giữa các ngươi) là vì công tác của Ngài trong xác thịt có những ranh giới và giới hạn. Ngài chỉ đơn thuần là đang thực hiện một giai đoạn ngắn của công tác trong hình ảnh của một xác thịt thông thường và bình thường; Ngài không sử dụng xác thịt nhập thể này để làm công tác đời đời hoặc công tác hiện ra cho các dân tộc của các quốc gia dân ngoại. Công tác trong xác thịt này chỉ có thể giới hạn trong một phạm vi (chẳng hạn như chỉ làm việc tại Giu-đê hoặc chỉ ở giữa các ngươi), và sau đó, bằng công tác được thực hiện bên trong các ranh giới này, phạm vi của nó có thể được mở rộng. Tất nhiên, công tác mở rộng sẽ được thực hiện trực tiếp bởi Thần của Ngài và khi đó sẽ không còn là công tác của xác thịt nhập thể của Ngài nữa. Vì công tác trong xác thịt có những ranh giới và không mở rộng ra mọi ngóc ngách của vũ trụ - điều này không thể thực hiện được. Thông qua công tác trong xác thịt, Thần của Ngài thực hiện công tác tiếp theo. Do đó, công tác được thực hiện trong xác thịt có tính chất mở đầu, được thực hiện bên trong những giới hạn nhất định; sau đấy, chính Thần của Ngài tiếp tục công tác này, và hơn thế nữa, làm điều đó trong một phạm vi mở rộng.
Công tác mà Đức Chúa Trời đến để làm trên đất này chỉ là hướng dẫn thời đại, mở ra một thời đại mới và kết thúc thời đại cũ. Ngài đã không đến để sống bày tỏ ra cuộc đời của một con người trên đất, để tự mình trải nghiệm những niềm vui và nỗi buồn của một con người, hoặc để hoàn thiện một người nào đó bởi tay Ngài, hoặc đích thân quan sát sự trưởng thành của một người nào đó. Đây không phải là công tác của Ngài; công tác của Ngài chỉ đơn thuần là mở ra thời đại mới và kết thúc thời đại cũ. Nghĩa là, Ngài sẽ đích thân mở ra một thời đại, đích thân kết thúc thời đại cũ, và đánh bại Sa-tan bằng cách đích thân thực hiện công tác của Ngài. Mỗi lần Ngài đích thân thực hiện công tác của mình, nó như thể Ngài đang đặt một chân lên chiến trường. Đầu tiên, Ngài chinh phục thế gian và đánh bại Sa-tan trong xác thịt; Ngài sở hữu mọi vinh quang và vén màn về toàn bộ công tác của hai nghìn năm, làm vậy hầu cho tất cả mọi người trên đất có con đường đúng đắn để bước đi cùng một cuộc sống bình an và niềm vui để sống. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời không thể sống với con người trên đất lâu dài, vì Chúa là Đức Chúa Trời, và xét cho cùng vẫn khác với con người. Ngài không thể sống cả cuộc đời của một con người bình thường, nghĩa là Ngài không thể sống trên đất như một con người không có gì phi thường, vì Ngài chỉ có được phần tối thiểu trong nhân tính thông thường của một con người bình thường để duy trì cuộc sống con người của Ngài. Nói cách khác, làm thế nào Đức Chúa Trời có thể lập một gia đình, có một sự nghiệp, và nuôi dạy con cái trên trần gian được? Chẳng phải điều này sẽ là một sự hổ thẹn đối với Ngài sao? Việc Ngài được ban cho nhân tính bình thường chỉ nhằm mục đích thực hiện công tác một cách bình thường, chứ không phải để giúp Ngài có một gia đình và sự nghiệp như một con người bình thường. Ý thức bình thường, tâm trí bình thường, và cách ăn mặc bình thường của Ngài trong xác thịt của Ngài đủ để chứng minh rằng Ngài có một nhân tính bình thường; Ngài không cần phải có một gia đình hoặc một sự nghiệp để chứng minh rằng Ngài được trang bị một nhân tính bình thường. Điều này hoàn toàn không cần thiết! Đức Chúa Trời đến trần gian là Lời trở nên xác thịt; Ngài chỉ đơn giản là cho phép con người hiểu lời của Ngài và nhận biết lời của Ngài, nghĩa là cho phép con người nhận biết công tác được thực hiện bởi xác thịt. Ý định của Ngài không phải là để mọi người đối xử với xác thịt của Ngài theo một cách nhất định, mà chỉ để con người vâng lời cho đến cùng, nghĩa là tuân theo mọi lời phán ra từ miệng của Ngài, và phục tùng mọi công tác Ngài làm. Ngài chỉ đơn thuần là đang làm việc trong xác thịt; Ngài không cố ý yêu cầu con người tôn cao sự vĩ đại và thánh khiết của xác thịt Ngài, nhưng cho con người thấy sự khôn ngoan trong công tác của Ngài và mọi thẩm quyền mà Ngài nắm giữ. Do đó, mặc dù Ngài có một nhân tính xuất chúng, nhưng Ngài chẳng loan báo điều gì, mà chỉ tập trung vào công tác mà Ngài nên làm. Các ngươi nên biết lý do tại sao Đức Chúa Trời đã trở nên xác thịt mà vẫn không công bố hay chứng thực cho nhân tính bình thường của Ngài, mà thay vào đó chỉ đơn giản thực hiện công tác mà Ngài muốn làm. Vì vậy, tất cả những gì các ngươi có thể nhìn thấy từ Đức Chúa Trời nhập thể là những gì thuộc về thần tính Ngài; điều này là do Ngài không bao giờ tuyên bố nhân tính của Ngài là gì để con người tranh đua. Chỉ khi con người lãnh đạo con người, thì họ mới phải nói về nhân tính của họ, nói tốt hơn để có được sự ngưỡng mộ và phục tùng cho họ và qua đó đạt được vai trò lãnh đạo người khác. Ngược lại, Đức Chúa Trời chinh phục con người chỉ thông qua công tác của Ngài (nghĩa là công tác mà con người không thể đạt được); không thể nào có chuyện Ngài được con người ngưỡng mộ, hoặc bắt con người ngưỡng mộ Ngài. Tất cả những gì Ngài làm là truyền vào con người một cảm giác tôn kính dành cho Ngài hoặc một ý thức về sự không thể dò lường của Ngài. Đức Chúa Trời không có nhu cầu gây ấn tượng với con người; tất cả những gì Ngài cần là để ngươi tôn kính Ngài một khi ngươi đã chứng kiến tâm tính của Ngài. Công tác Đức Chúa Trời làm là của riêng Ngài; con người không thể làm được điều đó thay cho Ngài, và con người cũng không thể đạt được điều đó. Chỉ đích thân Đức Chúa Trời mới có thể thực hiện công tác của chính Ngài và mở ra một thời đại mới để dẫn dắt con người vào đời sống mới. Công tác Ngài làm là giúp con người có được một đời sống mới và bước vào một thời đại mới. Phần còn lại của công tác được bàn giao lại cho những người có nhân tính bình thường và những người được người khác ngưỡng mộ. Do đó, trong Thời đại Ân điển, Ngài đã hoàn tất công tác hai nghìn năm chỉ trong ba năm rưỡi trong số ba mươi ba năm trong xác thịt của Ngài. Khi Đức Chúa Trời đến thế gian để thực hiện công tác của Ngài, Ngài luôn hoàn tất công tác của hai nghìn năm hoặc của toàn bộ thời đại trong khoảng thời gian ngắn nhất chỉ một vài năm. Ngài không lãng phí thời gian, và Ngài không trì hoãn; Ngài chỉ đơn giản là cô đọng công tác của nhiều năm hầu cho nó được hoàn thành chỉ trong một vài năm ngắn ngủi. Điều này là do công tác mà Ngài đích thân thực hiện hoàn toàn là để mở ra một lối thoát mới và mở ra một thời đại mới.
Giới thiệu:
Hợp Xướng Phúc Âm/ Hợp Xướng Ngợi Khen Chúa/Hợp Xướng Nhạc Thánh Ca hay, mang đến tin tức tốt lành về Vương quốc Chúa giáng lâm, hãy nghe ngay bài Thánh ca ngợi khen Tin Lành “Lễ ca của Vương quốc: Vương quốc giáng trần”
Nguồn bài viết:Hội Thánh Đức Chúa Trời Toàn Năng
1.07.2020
Lẽ mầu nhiệm của sự nhập thể (1)
Trong Thời đại Ân điển, Giăng đã dọn đường cho Jêsus. Ông đã không thể làm công tác của chính Đức Chúa Trời mà chỉ đơn thuần là hoàn thành nghĩa vụ của con người. Mặc dù Giăng là đấng tiên phong của Chúa, nhưng ông không thể đại diện cho Đức Chúa Trời; ông chỉ là một con người được Đức Thánh Linh sử dụng mà thôi. Sau phép báp-têm của Jêsus, Đức Thánh Linh đã ngự xuống trên Ngài như hình chim bồ câu. Sau đó, Ngài đã bắt đầu công tác của mình, nghĩa là Ngài đã bắt đầu thực hiện chức vụ của Đấng Christ. Đó là lý do Ngài mang danh tính của Đức Chúa Trời, vì Ngài đã đến từ Đức Chúa Trời. Bất kể đức tin của Ngài ra sao trước sự kiện này - đôi khi đức tin ấy có thể đã yếu đuối, hoặc đôi khi nó mạnh mẽ - tất cả đều thuộc về cuộc đời con người bình thường mà Ngài đã sống trước khi thực hiện chức vụ của mình. Sau khi Ngài đã chịu báp-têm (nghĩa là đã được xức dầu), quyền năng và sự vinh hiển của Đức Chúa Trời ngay lập tức ở cùng Ngài, và như thế Ngài đã bắt đầu thực hiện chức vụ của mình. Ngài có thể làm những dấu kỳ sự lạ, thực hiện những phép mầu, Ngài có quyền năng và thẩm quyền, vì Ngài đang trực tiếp hành động nhân danh chính Đức Chúa Trời; Ngài đang làm công tác thay mặt cho Thần và đang bày tỏ tiếng phán của Thần. Vì vậy, Ngài chính là Đức Chúa Trời; điều này là không thể bàn cãi. Giăng đã được Đức Thánh Linh sử dụng. Ông không thể đại diện cho Đức Chúa Trời, ông cũng không có khả năng đại diện cho Đức Chúa Trời. Nếu ông có muốn làm như vậy, thì Đức Thánh Linh hẳn cũng đã không cho phép điều đó, vì ông không thể làm công tác mà chính Đức Chúa Trời dự định hoàn thành. Có lẽ phần nhiều trong ông là ý muốn của con người, hay thứ gì đó lệch lạc; chẳng có tình huống nào mà ông có thể trực tiếp đại diện cho Đức Chúa Trời. Những lỗi lầm và sai lầm của ông chỉ đại diện cho bản thân ông, nhưng công tác của ông là đại diện của Đức Thánh Linh. Tuy nhiên, ngươi không thể nói rằng mọi thứ của ông đều đại diện cho Đức Chúa Trời. Có thể nào sự lệch lạc và sai lầm của ông cũng đại diện cho Đức Chúa Trời sao? Sai sót trong việc đại diện cho con người là điều bình thường, nhưng nếu một người lệch lạc trong việc đại diện cho Đức Chúa Trời, thì chẳng phải đó sẽ là một sự sỉ nhục đối với Đức Chúa Trời sao? Chẳng phải đó sẽ là sự phạm thượng đối với Đức Thánh Linh sao? Đức Thánh Linh không dễ dàng cho phép con người thay thế cho Đức Chúa Trời, ngay cả khi họ được những người khác tôn cao. Nếu họ không phải là Đức Chúa Trời, thì cuối cùng họ sẽ không thể đứng vững. Đức Thánh Linh không cho phép con người đại diện cho Đức Chúa Trời như con người muốn! Chẳng hạn, chính Đức Thánh Linh đã làm chứng cho Giăng và cũng chính Đức Thánh Linh đã mặc khải Giăng sẽ là người dọn đường cho Jêsus, nhưng công tác Đức Thánh Linh thực hiện trên ông đã được cân nhắc kỹ càng. Tất cả những gì Giăng được yêu cầu là trở thành người dọn đường cho Jêsus, để chuẩn bị lối cho Ngài. Điều đó có nghĩa là, Đức Thánh Linh đã chỉ ủng hộ công việc dọn đường của ông và chỉ cho phép ông làm công việc đó mà thôi - ông không được phép làm điều gì khác. Giăng đại diện cho Ê-li, và ông đại diện cho một nhà tiên tri đã mở đường. Đức Thánh Linh đã ủng hộ ông làm điều này; miễn là công việc của ông là mở đường, thì Đức Thánh Linh ủng hộ ông. Tuy nhiên, nếu ông đã tuyên bố mình chính là Đức Chúa Trời và nói rằng ông đã đến để hoàn thành công tác cứu chuộc, thì Đức Thánh Linh hẳn đã phải sửa dạy ông. Cho dù công tác của Giăng vĩ đại đến đâu, và mặc dù nó đã được Đức Thánh Linh ủng hộ, nhưng công tác của ông không phải không có những ranh giới. Dù đúng là Đức Thánh Linh thực sự đã ủng hộ công tác của ông, nhưng quyền năng ban cho ông vào thời điểm đó chỉ giới hạn trong việc dọn đường mà thôi. Ông không thể làm bất kỳ công tác nào khác, vì ông chỉ là Giăng, người dọn đường, chứ không phải là Jêsus. Do đó, lời chứng của Đức Thánh Linh là mấu chốt, nhưng công tác mà Đức Thánh Linh cho phép con người thực hiện thậm chí còn quan trọng hơn. Chẳng phải lúc đó Giăng đã nhận được lời chứng vang dội sao? Chẳng phải công tác của ông cũng đã rất vĩ đại sao? Nhưng công tác ông đã làm không thể vượt qua công tác của Jêsus, vì ông không hơn gì một con người được Đức Thánh Linh sử dụng và không thể trực tiếp đại diện cho Đức Chúa Trời, và vì vậy công việc ông làm bị hạn chế. Sau khi ông đã hoàn thành công tác dọn đường, Đức Thánh Linh đã không còn ủng hộ lời chứng của ông, không có công tác mới nào theo sau ông, và ông đã rời đi khi công tác của chính Đức Chúa Trời bắt đầu.
1.06.2020
Chương 19
Bổn phận của con người là coi lời nói của Ta là nền tảng của sự sinh tồn của họ. Con người phải thiết lập một phần riêng cho mình trong từng phần lời của Ta, nếu không sẽ tự chuốc lấy diệt vong, tự làm khó mình. Con người đều không biết Ta, vì vậy, không dùng sinh mệnh của mình để làm vật trao đổi với Ta, chỉ cầm những thứ bỏ đi trong tay mình để phô trương trước mặt Ta, cố gắng làm Ta hài lòng. Nhưng Ta không hài lòng với hiện trạng, Ta luôn đưa ra yêu cầu cho con người. Ta yêu những đóng góp của con người nhưng ghét những đòi hỏi của họ. Trái tim con người đều chứa đầy lòng tham, dường như trái tim con người bị ma quỷ mê hoặc, không thể dứt ra được và dâng hiến trái tim cho Ta. Khi Ta nói, con người đều hết sức chăm chú lắng nghe giọng nói của Ta; nhưng khi Ta ngừng nói, họ lại bắt đầu về “sự quản lý” của mình, hoàn toàn phớt lờ những lời của Ta, dường như lời của Ta là vật phụ thuộc cho “quản lý” của họ. Ta chưa bao giờ thoải mái với con người nhưng kiên nhẫn và khoan dung với họ. Do vậy, bởi sự khoan dung của Ta, con người đều không biết tự lượng sức mình, không tự nhận thức, tự xem xét lại bản thân và họ lợi dụng sự kiên nhẫn của Ta để lừa dối Ta. Không một ai trong số họ thực lòng quan tâm đến Ta, không một ai thực sự coi Ta là đối tượng yêu dấu trong lòng họ, chỉ khi họ rảnh rỗi, họ mới dành chút quan tâm chiếu lệ cho Ta. Những nỗ lực Ta dành cho con người không thể đong đếm được. Ta đã tạo cho con người một loại công việc chưa từng có, ngoài ra, Ta còn cho con người thêm một trọng trách, làm cho con người có chút nhận thức và thay đổi từ tất cả những gì Ta có. Ta không yêu cầu con người trở thành “người tiêu dùng” thuần túy mà khiến con người trở thành “nhà sản xuất” có khả năng đánh bại Sa-tan. Mặc dù Ta không yêu cầu con người làm bất cứ điều gì nhưng Ta có những tiêu chuẩn đối với các yêu cầu mà Ta đưa ra, vì Ta làm việc có mục đích và có nguyên tắc, chứ không bỡn cợt tùy tiện giống như tưởng tượng của con người, cũng không sáng tạo ra trời đất và vạn vật theo tính khí của mình. Trong công việc của Ta, con người phải nhìn thấy điều gì đó, đạt được cái gì đó. Không nên lãng phí “thanh xuân” của mình, không nên coi sinh mệnh của mình như bộ quần áo trên cơ thể để bụi tự bám vào; thay vì thế, họ phải bảo vệ bản thân nghiêm ngặt, lấy sự giàu có của Ta để cúng dường cho mình, cho đến khi không thể quay lại với Sa-tan vì Ta, và tấn công Sa-tan vì Ta. Yêu cầu của Ta đối với con người chẳng phải chỉ đơn giản vậy thôi sao?
1.04.2020
Chương 27
Hành vi của con người chưa bao giờ làm lay động trái tim Ta, chưa từng được Ta xem là quý giá. Trong mắt của con người, Ta luôn đối xử rất nghiêm khắc và luôn thực thi thẩm quyền đối với con người. Trong tất cả các hành động của con người, hầu như không có bất kỳ điều gì được làm cho Ta, không có bất kỳ điều gì đứng vững trước mắt Ta. Cuối cùng, tất cả mọi thứ của con người đã âm thầm sụp đổ trước mặt Ta, sau đó, Ta mới thể hiện hành động của mình để tất cả mọi người biết Ta qua thất bại của chính họ. Bản chất của con người không hề thay đổi, những gì trong lònghọ không hợp với ý Ta, không phải là thứ Ta cần. Điều Ta ghét nhất là sự ngoan cố và tái phạm của con người nhưng không biết sức mạnh nào đã thúc giục con người luôn không biết Ta, luôn tránh xa Ta, không làm theo ý Ta trước mặt Ta mà lại làm những việc chống lại Ta ở sau lưng Ta. Lẽ nào đây là lòng trung thành của con người? Là tình yêu của con người dành cho Ta? Tại sao con người không thể ăn năn, làm lại từ đầu? Tại sao con người luôn muốn sống trong đầm lầy thay vì một nơi không có bùn lầy? Lẽ nào là Ta đã bạc đãi họ? Lẽ nào là Ta đã chỉ sai đường cho họ? Lẽ nào Ta đang dẫn họ xuống địa ngục? Con người đều sẵn sàng sống trong “địa ngục.” Khi ánh sáng đến, đôi mắt của họ lập tức bị mù, bởi vì mọi thứ mà họ có đều đến từ địa ngục nhưng con người lại không hề hay biết, chỉ là đang tận hưởng “phước lành địa ngục” và ôm vào trong lòng như báu vật, sợ Ta cướp đi mất, để lại họ không có “nguồn sống.” Con người đều “sợ” Ta, vì thế, khi Ta đến trần gian, họ đều xa lánh Ta, không muốn đến gần Ta vì họ không muốn “chuốc lấy rắc rối cho chính mình,” thay vào đó muốn chung sống hòa thuận với gia đình, tận hưởng “hạnh phúc trên đất.” Tuy nhiên, Ta lại không cho phép con người cầu được ước thấy, bởi vì Ta đến là để phá hoại “gia đình” của con người. Khi Ta đến, sự bình an sẽ biến mất khỏi ngôi nhà của họ. Ta muốn đập tan các nước, huống chi là gia đình của con người? Ai có thể thoát khỏi được tay Ta? Lẽ nào những người được hưởng phước lành có thể né tránh vì không sẵn lòng sao? Lẽ nào kẻ bị sửa phạt sẽ nhận được sự cảm thông của Ta vì sự sợ hãi của họ sao? Trong tất cả những lời của Ta, con người đã nhìn thấy ý muốn của Ta, nhìn thấy hành động của Ta, nhưng ai có thể thoát khỏi được vướng mắc trong suy nghĩ của chính họ? Ai có thể tìm thấy lối thoát từ bên trong hoặc bên ngoài lờicủa Ta?
1.03.2020
Tiết mục Đối đáp Tin Lành 2019 | Chỉ có một Đức Chúa Trời duy nhất
Tiết mục Đối đáp Tin Lành 2019 | Chỉ có một Đức Chúa Trời duy nhất
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)









